Nếu ngủ mơ thấy người nhà bị ma nhập là điềm báo gì? –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
![]() |
| => Bói tình yêu theo ngày tháng năm sinh chuẩn xác tại Lịch ngày tốt |
Những con giáp cả đời chôn chặt mối tình đầu trong tim
(thành công lớn), quảng ích (thu lợi lớn), cát tường (hồng vận). Mặt khác, nếu tên cửa hàng có nghĩa là không có vận khí, làm ăn sẽ không thể phát đạt. Cửa hàng lấy tên “vô lợi” thì chủ cửa hàng định là sắp đóng cửa. Có một số nhà phong thủy dùng quy luật 5 nguyên tố ngũ hành để đặt tên cho thích hợp với cửa hàng.

Bảng dưới đây giúp bạn đưa ra một số chữ thường gặp và có liên quan đến 5 nguyên tố đó, có thể cùng nhau tham khảo:
Thủy Hỏa Mộc Kim Thổ – Phú độ quý thương doanh
Hoàng đường quan sinh vũ – Hồng lạc quảng tư an
Phúc kim cung hạ vô – Bích điếm khổng xưởng vọng
Khi 5 loại nguyên tố Ngũ hành sẽ phối hợp với nhau, khi tạo thành tên cửa hàng, tố hợp của 5 loại nguyên tố Ngũ hành sẽ tạo ra kết quả xấu và kết quả tốt. Có một số tổ hợp tên gọi là cát lợi như:
Thủy + Mộc (Thủy nuôi dưỡng cây sinh trưởng)
Mộc + Hỏa (sự tăng cường Mộc khiến cho lửa tăng cường)
Hỏa + Thổ (Hỏa khiến cho Thổ thuần khiết)
Thổ + Kim (Kim được Thổ bảo hộ)
Kim + Thủy (Kim khiến Thủy phú quý)
Tên gọi của tổ hợp không cát lợi:
Thủy + Hỏa (Thủy diệt Hỏa)
Hoa + Kim (Hỏa khắc Kim)
Thổ + Mộc (Mộc sẽ bị Thổ lấp)
Thổ + Thủy (Thủy sẽ tiêu mất đi trong Thổ)
Cố một số nhà phong thủy thích dùng chữ Hán để vẽ ra chữ nhất định để đặt tên cho cửa hàng. Nét vẽ lấy chữ đơn số làm âm, nét vẽ hai số là dương. Ví dụ: theo chữ Hán, một nét là âm, hai nét là dương, tên cửa hàng dùng đơn số và song số (Âm/Dương) là tốt. Phương pháp sắp xếp này theo thứ tự là Dương/Âm, Âm/Âm/Dương, Âm/Dương/Dương. Những trường hợp không tốt là: Âm/Dương/Âm và Dương/Âm/Dương.
Phong thủy học cho rằng, năng lượng xung quanh ngôi nhà có ảnh hưởng trực tiếp đến chúng ta - theo tất cả các cách cả tốt và xấu. Có thể một số chuyên gia sẽ chỉ cho bạn biết nhà vệ sinh và cầu thang chính là những khu vực có nguồn năng lượng xấu nhất. Tuy nhiên sự thật quan trọng nhất lại nằm ở vị trí của ngôi nhà. Nếu nhà bạn đã nằm ở vị trí không tốt thì nhà vệ sinh hoặc cầu thang cũng không ảnh hưởng nhiều.
1. Nhà thấp hơn mặt đường
Điều này có nghĩa là nếu từ nhà nhìn thẳng ra tầm mắt sẽ bị đập vào một bức tường. Nó cũng giống như cuộc sống lúc nào cũng có một chướng ngại khổng lồ ngăn cản bạn tiến bước, hay bạn không có "người chống lưng". Thậm chí, người Trung Quốc xưa còn có quan niệm rằng cuộc sống thấp hơn mặt đất thì chỉ dành cho người chết.
Một ngôi nhà được cho là có vị trí tốt khi có không gian mở ở phía trước. Nó có thể là một bãi cỏ xanh, cho phép các chi năng lượng vào nhà nhẹ nhàng và dễ dàng.
Hóa giải: Trường hợp này rất khó hóa giải, vì không phải tất cả mọi thứ đều "có thể chữa được" trong phong thủy. Nếu nhà bạn bị phạm vào thế xấu này, hãy thử nâng năng lượng của ngôi nhà bằng cách giữ cho cửa phía trước luôn sáng sủa nhất có thể. Nhưng cách tốt nhất vẫn là chuyển nhà.
2. Nhà ở ngã ba phạm mũi tên độc
Ngôi nhà bị đường đâm thẳng vào cửa là thế nhà phạm phong thủy xấu. Nếu cửa nhà mở về hướng đông thì con trai cả bị ảnh hưởng hoặc các mối quan hệ gia đình không được suôn sẻ. Nếu ngôi nhà quay về phía tây nam, các thành viên trong gia đình thường hay gặp tai nạn hoặc người phụ nữ trong gia đình bị ảnh hưởng.
Hóa giải: Thông thường mọi người tránh mua nhà ở ngã ba để không bị phạm loại sát khí này. Trong tình thế bắt buộc, chủ nhà có thể hóa giải bằng cách treo gương bát quái lồi trước cửa nhà.

Nhà ở ngã ba đường thường có phong thủy không tốt
3. Bếp đặt ở hướng Tây Bắc
Trong gia đình truyền thống hay hiện đại, phần lớn người đàn ông vẫn giữ vai trò trụ cột. Trong phong thủy, vị trí quan trọng đại diện trụ cột gia đình nằm ở khu vực Tây Bắc. Nếu góc này đặt bếp, bình nước nóng hoặc bếp nướng ngoài trời...sẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới người đàn ông trong gia đình. Họ có thể bị tai nạn, ốm đau bệnh tật, hoặc mất việc, phá sản.
Hóa giải: Nếu dùng bếp gas sẽ nguy hại hơn nhiều. Cho nên, nếu không thể di chuyển vị trí bếp hãy thay bếp gas bằng bếp điện để hạn chế bớt ảnh hưởng của lửa.
4. Dốc đằng sau nhà
Ai cũng cần có những sự hỗ trợ nhất định để có thể vững vàng tiến về phía trước. Tuy nhiên, nếu ngôi nhà bạn đang ở có một con dốc phía sau thì nó sẽ khiến bạn dần dần bị mất đi những quý nhân phù trợ cho mình. Năng lượng vào trong nhà sẽ không đọng lại được mà nhanh chóng bị trượt ra khỏi đằng sau khiến cho chủ nhà khó tích lũy được tài chính. Về lâu dài, việc làm, các mối quan hệ và sức khỏe của các thành viên trong gia đình sẽ giảm sút.
Hóa giải: Nếu nhà phạm vào thế này, hãy cố gắng để ngăn chặn năng lượng chạy ra khỏi nhà bằng cách dựng hàng rào, trồng một hàng cây hay lắp thêm đèn lớn ở phía mặt sau của ngôi nhà.
5. Nhà đất thóp hậu
Nếu những ngôi nhà nằm trên mảnh đất nở hậu được cho là giúp trữ nhiều tiền bạc, thì ngược lại, nhà đất thóp hậu giống như một chiếc phễu lớn. Về lâu dài, ngôi nhà này thường không tốt, không bền vững. Còn về mặt thẩm mỹ thường khiến sắp xếp nội thất trở nên khó khăn.
Hóa giải: Trường hợp này có thể xây tường hoặc hàng rào để hóa giải tương tự trường hợp có dốc phía sau nhà.
6. Giường ngủ đối diện phòng tắm
Kiểu phòng ngủ này thường khiến chủ nhà và người trong gia đình dễ mắc các bệnh về xương khớp, cơ bắp và cũng có thể khiến tiền bạc bị thất thoát. Nguyên nhân là do bạn sẽ hấp thụ phải nguồn năng lượng tiêu cực phát ra từ phòng tắm hoặc nhà vệ sinh.
Hóa giải: Phòng ngủ nên được tách thành một căn phòng riêng, có cửa đóng kín cách li khỏi phòng tắm. Đồng thời bạn cũng nên di chuyển giường ra vị trí khác ít bị ảnh hưởng nhất.
(Theo Khám phá/Eva) Nốt ruồi ở xương quai xanh hoặc bả vai - quản lý tài sản không tốt Nếu vị trí lõm giữa xương quai xanh và bả vai có nốt ruồi thì khả năng quản lý tài sản của người này không tốt, không có khả năng xây dựng tài chính, điều này sẽ làm cho hậu vận gặp khó khăn vì không có tích lũy. Bởi vậy, bất kể nam nữ, nếu có nốt ruồi tại vị trí này thì nên thận trọng ngay cả khi tiền đã cầm trong tay, đặc biệt là trong việc đầu tư tài chính.
Nốt ruồi ở bầu ngực – người hẹp hòi, túng thiếu Nếu một trong hai bầu ngực có nốt ruồi thì người này khá hẹp hòi, “lòng lang dạ thú” và thường xuyên lâm vào cảnh túng thiếu, mối quan hệ với người khác thường không tốt, thường bị hiểu lầm hoặc bị hãm hại. Phụ nữ có nốt ruồi ở vị trí này thường rất đào hoa, tuy nhiên đào hoa quá vượng cũng khiến cho chuyện tình cảm gặp nhiều trắc trở.
Nốt ruồi dưới gót chân – gặp nhiều phiền toái Dưới gót chân có nốt ruồi, đặc biệt là nốt ruồi đen thì bạn nên cẩn thận, vì nốt ruồi này cảnh báo cuộc sống của bạn gặp rất nhiều phiền toái, làm việc hết mình hết sức nhưng kết quả thu được ít hoặc không được người khác công nhận, chuyện tình cảm cũng không khá hơn, cố gắng nhiều nhưng chẳng được bao nhiêu. Nếu là nữ giới thì có thể chọn màu sơn móng chân phù hợp với bản mệnh, còn với nam giới thì có thể xóa nó đi, ít nhiều vận trình sẽ được cải thiện. Ngoài ra, nếu bạn thường xuyên đi tất thì ảnh hưởng của nốt ruồi cũng giảm đi đáng kể.
![]() |
| Ảnh minh họa. |
| ► Xem tướng các bộ phận cơ thể đoán vận mệnh chuẩn xác |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Ngày nay, rất nhiều gia đình thích treo tranh động vật hoặc cây hoa lá trong nhà vừa để làm đẹp vừa mang ý nghĩa phong thủy giúp thu hút tiền tài và sức khỏe cho gia chủ.
Dưới đây là 5 loại tranh phong thủy thích hợp treo trong phòng khách của gia đình trong dịp năm mới sắp đến:
Tranh sơn thủy hữu tình
Núi thể hiện sự dịu dàng, già dặn và đầy đủ được bao phủ bởi thực vật. Nước chảy thể hiện sự bình an. Vì thế, tranh sơn thủy hữu tình nên được lựa chọn treo trong phòng khách.
Tranh hoa mẫu đơn
Hoa mẫu đơn thể hiện sự giàu có và những điều tốt lành. Nhưng khi treo bức tranh hoa mẫu đơn, bạn phải chú ý đến hướng. Tranh hoa mẫu đơn nên được treo ở phía bắc hay phía nam. Bởi vì hoa mẫu đơn mang yếu tố gỗ, phía bắc là nước. Gỗ có thể được lấy cảm hứng từ nước. Không treo tranh hoa mẫu đơn về phía tây. Hoa mẫu đơn cũng có thể được đặt trong phòng ngủ của bạn.
Tranh hoa sen
Hoa sen thể hiện tấm lòng trong sạch và trung thực của con người. Ngoài ra, nó còn mang ý nghĩa hạnh phúc và tốt đẹp. Vì vậy, bức tranh hoa sen cũng rất tốt cho gia chủ khi được treo trong phòng khách.
Tranh đàn cá
Tranh đàn cá mang lại những điều tốt lành cho gia chủ, nó thể hiện sự chi tiêu đủ đầy nên được treo ở khu vực hút tiền của phòng khách.
Tranh hình cây tre
Hình cây tre thể hiện sự phát triển ổn định trong nghề nghiệp thích hợp treo trong phòng khách của những gia đình đang cần dự đột phá mới trong công việc.
Có rất nhiều người có sở thích bài trí cho căn nhà của mình bằng những chiếc mặt nạ ngộ nghĩnh mà họ sưu tầm được từ sau những chuyến du lịch, khám phá như một kỉ niệm, dấu ấn đặc biệt.
Nhưng không phải chiếc mặt nạ nào cũng thích hợp cho việc trưng bày như một vật trang trí đầy phong cách. Tử vi số sẽ giới thiệu cho các bạn nhận biết một vài chiếc mặt nạ không nên treo trong nhà.
Nhiều gia đình hiện nay vẫn thích treo trong nhà bức tranh chung quỳ cao bằng người có sát khí, có thể tránh tà trị ma, nhưng cũng bất lợi về việc cầu con. Nếu không muốn có con, treo tranh chung quỳ cũng có thể tránh tà.
Vào thời xưa, tượng mặt nạ được dùng trong dịp tế thần trị ma, là một loại biểu diễn mang tính tôn giáo. Vào thời xưa ở Trung Quốc có một số loại kịch diễn viên không nói chuyện, mang mặt nạ biểu diễn động tác xong, đều phải dùng khăn trắng che mặt rồi mới cất vào. Các mặt nạ này tuyệt đối không được treo trong nhà để tránh rước họa.

Người xưa hiểu những điều cấm kị này hơn người hiện đại, vì để tránh xung khắc, cho nên trong nhà chưng tranh sơn thủy, hoa chim, tự họa và sành sứ linh vật trang trí làm chính.
Đây đều là những vật bình hòa, tuy không giải được ác sát nhưng cũng không có hại… Nếu như người xưa muốn cất giữ vật mang “sát khí”, trước tiên sẽ để nó ở nơi sinh hoạt thường ngày, những đồ cổ vật lạ này đều sẽ đặt ở trong phòng khách như biệt uyển, tây sương… đây đều là căn phòng thường ngày không có người sống ở đó lâu, còn về các vật như mặt nạ thì dùng vải che lại để trang trí, khi cần dùng thì mở ra ngắm nhìn. Thần phật chỉ đặt trên bàn thờ để cung phụng.
Ảnh chân dung của nữ sinh Hillary Diane Rodham tại trường phổ thông Park Ridge East, bang Illinois, năm 1965. Ảnh: AP
![]() |
| Hillary Diane Rodham từng sinh viên ở Đại học Wellesley, bang Massachusetts. Thời gian đầu, Hillary ủng hộ đảng Cộng hòa. Sau này, bà quan tâm đến vấn đề bình đẳng giữa các chủng tộc nên rời đảng. Ảnh: AFP |
![]() |
| Ông Bill Clinton và bà Hillary chụp ảnh tại trường Luật thuộc Đại học Yale vào năm 1972. Họ kết hôn năm 1975. Ảnh: Time |
![]() |
| Vợ chồng ông Bill Clinton chào đón con gái đầu lòng năm 1980. Lúc này ông giữ chức thống đốc nhiệm kỳ đầu tiên tại bang Arkansas. Ảnh: AP |
![]() |
| Gia đình Clinton trong dịp ông Bill Clinton thông báo tranh cử tổng thống Mỹ ngày 3/11/1991. Ảnh: AP |
![]() |
| Bà Clinton tham gia một sự kiện để vận động tranh cử cho chồng vào ngày 19/6/1992. Ảnh: AP |
![]() |
| Ngày 26/1/1992, ông Clinton xuất hiện trên truyền hình cùng vợ để bác bỏ những tin đồn ông quan hệ lén lút với cô Gennifer Flowers, nữ ca sĩ phòng trà nổi tiếng ở bang Arkansas. Những tin đồn nảy sinh trước khi đảng Dân chủ tổ chức đại hội để chọn ra ứng viên đại diện chính thức. Sự xuất hiện "tay trong tay" cùng người vợ đã khiến ông Clinton giành lại tỷ lệ ủng hộ đáng kể, phục hồi lòng tin của cử tri. Ảnh: CBS |
![]() |
| Gia đình Clinton trong đại hội toàn quốc của đảng Dân chủ vào ngày 15/7/1992. Ông Clinton chính thức trở thành ứng viên đại diện đảng để tranh cử tổng thống Mỹ. Ảnh: AP |
![]() |
| Gia đình Clinton và gia đình ông Al Gore trong buổi lễ nhậm chức tổng thống và phó tổng thống Mỹ ngày 17/1/1993. Bà Clinton trở thành Đệ nhất Phu nhân Mỹ đầu tiên có học vị sau đại học. Ảnh: AP |
![]() |
| Tổng thống Bill Clinton giao cho vợ nhiều trọng trách so với các vị phu nhân tiền nhiệm. Chương trình nổi bật của bà Clinton khi đó là đề xuất cải cách hệ thống chăm sóc y tế toàn quốc. Ảnh: AP |
![]() |
| Bà Hillary cùng chồng và con gái trong ngày ông Bill Clinton nhậm chức tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 ngày 20/1/1997. Ảnh: White House |
![]() |
| Bà Clinton sát cánh bên chồng khi tổng thống thứ 42 của Mỹ phát biểu cảm ơn những nghị sĩ đảng Dân chủ bỏ phiếu chống luận tội ông vào ngày 19/12/1998. Ban đầu, ông chủ Nhà Trắng phủ nhận chuyện đã quan hệ ngoài luồng với nữ thực tập sinh Monica Lewinsky. Sau này, ông thừa nhận sự việc và phải công khai xin lỗi. Hạ viện đã thông qua đề nghị luận tội tổng thống, nhưng Thượng viện bác bỏ điều này. Ảnh: AP |
![]() |
| Bà Clinton cùng chồng và con gái trong ngày ăn mừng chiến thắng giành chức thượng nghị sĩ đại diện bang New York ngày 7/11/2000. Đến ngày 7/11/2006, bà tiếp tục đắc cử để đại diện bang New York tại Thượng viện thêm một nhiệm kỳ. Ảnh: AP |
![]() |
| Bà Clinton trong một buổi vận động tranh cử tổng thống Mỹ vào ngày 27/1/2007. Từ trước đến nay, chưa chính đảng nào ở Mỹ đề cử phụ nữ làm ứng viên chính thức để tranh cử ghế tổng thống. Ảnh: AP |
![]() |
| Bà Clinton tham dự một chiến dịch tranh cử cùng ông Barack Obama vào ngày 27/6/2008. Sau thất bại ở các vòng bầu cử sơ bộ, bà Clinton tuyên bố ngừng cuộc đua vào Nhà Trắng và quay sang ủng hộ ứng viên tổng thống gốc Phi đầu tiên. Ảnh: AP |
![]() |
| Ngày 1/12/2008, sau khi nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Obama tuyên bố đề cử bà Clinton giữ chức ngoại trưởng Mỹ. Ảnh: AP |
![]() |
| Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton trao đổi cùng Tổng thống Nga Vladimir Putin bên lề hội nghị cấp cao APEC diễn ra ở thành phố Vladivostok, Nga, vào ngày 8/9/2012. Bà cũng là ngoại trưởng Mỹ công du nhiều quốc gia nhất (112 nước). Ảnh: AP |
![]() |
| Tổng thống Obama và Ngoại trưởng Clinton trong tấm ảnh nổi tiếng về quá trình theo dõi chiến dịch tiêu diệt trùm khủng bố Osama bin Laden ngày 1/5/2011. Ảnh: White House |
![]() |
| Ngày 23/1/2013, bà Clinton điều trần trước Quốc hội về vụ tấn công đại sứ quán Mỹ ở Libya. Vài ngày sau, bà kết thúc nhiệm kỳ ngoại trưởng, rời khỏi chính phủ và nhường nhiệm vụ lãnh đạo Bộ Ngoại giao Mỹ cho ông John Kerry. Ảnh: AP |
![]() |
| Cuối tháng 9/2014, ông bà Clinton đón cháu ngoại. Ảnh: CNN |
![]() |
| Bà Clinton dự một sự kiện về chính sách đối ngoại ngày 14/5/2014. Sau khi rời Bộ Ngoại giao, bà Clinton trở về với cuộc sống đời thường, không can dự vào chính sự sau hơn 30 năm. Tuy nhiên, giới chuyên gia và truyền thông đều nhận định bà đang chuẩn bị cho chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2016. Ngày 10/4/2015, một số nguồn tin của hãng AP cho biết, bà Clinton sẽ chính thức xác nhận kế hoạch chạy đua vào Nhà Trắng vào cuối tuần này. Ảnh: AP |
![]() |
| Tuổi Tỵ |
![]() |
| Tuổi Thìn |
![]() |
| Tuổi Tý |
![]() |
| Tuổi Ngọ |
| ► Khám phá: Tử vi trọn đời của bạn bằng công cụ xem bói tử vi chuẩn xác |
Tác giả: Hoàng Đại Lục
Dụng thần là gì? Học giả mệnh lý hiện đại hầu như đều nhất chí cho rằng: Dụng thần tức là mấu chốt của bát tự, là một hai loại ngũ hành co thể gây nên những tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan trong bát tự. Hoặc có thể nói, dụng thần chính là "thần" có thể làm cân bằng ngũ hành bát tự, có ích với nhật chủ, nói gọn là dụng thần cân bằng.
Lật giở các thư tịch mệnh lý hiện đại, chúng ta sẽ phát hiện đa số tác giả đều dùng phần lớn số trang sách để luận thuật tác dụng quan trọng của dụng thần và cả phương pháp lựa chọn dụng thần. Các vị ấy còn cho rằng dụng thần không thể bị tổn thương được, dụng thần mà có lực thì mệnh chủ sẽ cát, dụng thần bị thương thì mệnh chủ sẽ hung, do đó điều cơ bản nhất, quan kiện nhất, khó khăn nhất khi xem mệnh chính là tìm đúng dụng thần. Ví dụ như cuốn "Tứ trụ bác quan" do hai vị tiên sinh Lăng Chí Hiên và Trương Chí Xuân biên soạn, trong đoạn "Tường luận dụng thần" có nói: "Hạch tâm trung khu của tứ trụ mệnh lý học là ở tìm dụng thần, muốn biết sự gập ghềnh khúc khuỷu của đường đời nhân sinh, toàn phải nhờ vào dụng thần làm tọa độ để miêu tả. Tìm không ra tọa độ dụng thần, hoặc tìm sai tọa độ dụng thần sẽ thành " Một chữ sai, toàn bàn sai hết". Có thể nói quan điểm về dụng thần của cuốn này đã đại biểu cho mệnh lý hiện hành.
Thế nhưng, muốn tìm đúng cái dụng thần cân bằng này lại là một chuyện khó khăn dị thường. Bởi vì tiền đề của tìm dụng thần đầu tiên là phải nắm bắt chuẩn xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự. Mà sự vượng suy cường nhược của ngũ hành trong bát tự lại tùy theo sự giới nhập của tuế vận mà biến hóa không ngừng, muốn cân đo đong đếm nó khác nào đi cân đo đong đếm con khỉ có bảy mươi hai phép thần thông biến hóa! Cho nên thường ba vị mệnh sư phân tích cùng một bát tự sẽ đưa ra hơn ba kiểu vượng suy kết luận. Thế thì cũng như không có kết luận! Lăng Chí Hiên tiên sinh cũng vì thế mà vô cùng đau đầu, ông nói trong cuốn "Tứ trụ bác quan" rằng: "Cho dù là cao thủ mệnh lý đi nữa, khi họ đối diện với một số mệnh tạo có cách cục đặc thù hoặc sự cường nhược không rõ ràng thì cũng cảm thấy bó tay... Người viết cũng từng gặp qua những trường hợp kiểu này, tụ tập bảy tám vị dịch hữu cùng thảo luận, kết quả là mỗi người nói mỗi phách, chẳng ai chịu nhường ai, ai cũng phô ra một kiểu lý luận của riêng mình, cãi lý cả một ngày cũng không giải quyết được vấn đề. Thế đấy, có phải muốn phán đoán chính xác trình độ vượng suy cường nhược của ngũ hành bát tự còn khó hơn Phật Bà phán đoán Tề Thiên thật và Tề Thiên giả không nhỉ?
Nói cách khác, cho dù có ai vào một ngày nào đó dùng tuyệt kỹ tìm dùng thần này mà xem mệnh thì tỷ lệ chuẩn xác chưa chắc đã cao. Tại sao vậy? Đầu tiên, các cách như nhất khí chuyên vượng cách, tòng cường cách, tòng Sát cách, tòng Tài cách, tỉnh lan xoa cách, v.v... vốn không cần đến sự cân bằng ngũ hành của bát tự, cái gọi là dụng thần cân bằng không có chỗ dùng trong các loại cách này. Kế tới, cho dù là mệnh cách thông thường cần ngũ hành cân bằng, chỉ cần bát tự kết cấu không thỏa đáng, phá hoại mất cách cục thì cho dù thân cường Tài vượng hay thân Sát lưỡng đình đi chăng nữa mà dùng dụng thần cân bằng cũng khó đoán chuẩn cát hung họa phúc của người ta. Cho dù là danh sư nhiều năm nghiên cứu mệnh lý cũng không ngoại lệ. Tác giả bộ "Bát tự chân quyết khởi thị lục" là Tống Anh Thành tiên sinh trong bài "Nghiên cứu hỷ dụng thần" đã cảm khái nói: "Tác dụng của dụng thần đôi khi làm người ta cảm thấy khó hiểu, đi đến vận trình của hỷ dụng thần, chẳng những không thăng quan phát tài mà còn bị hao tổn trầm trọng, cơ hàn đói rách, có phải là hỷ dụng thần mà chúng ta chọn khác hẳn với hỷ dụng thần chân chính? Nghĩ tới đây hèn gì có người nghiên cứu hết bao nhiêu kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá."
Nghe câu trên mà thấy rầu! Trải qua chín chín tám mươi mốt tai nạn mới lấy được chân kinh, ấy thế mà "nghiên cứu hết kinh thư cổ tịch mà vẫn không thể đột phá"! Cố gắng hết sức mới chọn được dụng thần mà không xài được!
Để tìm đột phá khẩu, giải cứu dụng thần cân bằng ra khỏi tình huống khó xử, có học giả bèn không thèm chấp vào cách chỉ chọn một dụng thần nữa, mà chọn mấy loại dụng thần từ trong một mệnh, nào là đại dụng thần, tiểu dụng thần, hoặc dụng thần thứ nhất, dụng thần thứ hai, dụng thần thứ ba, hoặc dụng thần cân bằng, dụng thần điều hậu, dụng thần cách cục v.v..., muốn đem càng nhiều dụng thần hơn nữa vô để bịt những lỗ hổng xuất hiện liên tục trong khi dự đoán. Dùng dụng thần cân bằng không thể xử được, bèn dùng dụng thần điều hậu và dụng thần cách cục để xử lý. Ví dụ như nhà mệnh lý học trứ danh là Lương Tương Nhuận tiền bối trong cuốn "Tế phê chung thân tường giải" đã dùng nhiều loại dụng thần để phê mệnh. Ông đã dùng dụng thần điều hậu của Dư Xuân Đài, lại còn dùng dụng thần cách cục của Thẩm Hiếu Chiêm (nhưng không chuẩn), hãy còn dùng dụng thần cân bằng của "Kim Bất Hoán" (thực ra cũng không phải nốt), kết hợp thêm với cả tứ giác hình xung hợp hội, thần sát, nạp âm, v.v... hổ lốn các phương pháp, thậm chí còn bao gồm cả những ngón vụn vặt xác suất trúng cực thấp như "Diễn cầm phu thê - tử nữ biểu".
Cái kiểu dùng nhiều loại dụng thần để xem mệnh này tuy có thể cầm cự được khiếm khuyết do chỉ dùng một dụng thần gây ra, nhưng phương pháp này tự thân nó lại không thể giải quyết được vấn đề mới nảy sinh như sau:
1. Dụng thần đã là mấu chốt của bát tự, thế thì, tổn hại dụng thần có ý nghĩa phá vỡ sự cân bằng ngũ hành trong bát tự, từ đó khiến mệnh chủ gặp tai nạn, đây là quan điểm được tuyệt đại đa số các học giả mệnh lý đồng ý. Nếu sử dụng nhiều dụng thần để đoán mệnh sẽ đồng thời xuất hiện nhiều điểm cân bằng, nhiều điểm mấu chốt. Vấn đề là, nhiều điểm cân bằng ấy có phải quan trọng như nhau không? Giả thiết câu trả lời là khẳng định, thế thì mỗi khi tuế vận phá vỡ bất cứ một điểm cân bằng nào trong đó, cả mệnh cục sẽ mất cân bằng, thế thì các điểm cân bằng còn lại có còn được gọi là điểm cân bằng nữa không? Còn tính là mấu chốt của bát tự nữa chăng?
2. Nếu như quyền lợi của nhiều dụng thần không đồng đẳng, thì cũng như Thị trưởng, Phó Thị trưởng và Trợ lý Thị trưởng vậy, quyền lợi to nhỏ khác hẳn nhau, thế thì, quyền lợi của loại dụng thần nào mới là to nhất? Lương Tương Nhuận tiên sinh cho rằng: "Điều hậu chi dụng, vi bát tự đệ nhất yếu nghĩa". Ông cho rằng dụng thần điều hậu là quan trọng bậc nhất. Thế mà trong "Kim Điếu Thùng" thì nói: "Nếu nhập cách thì lấy quí mà đoán, phá cục thì lấy bần mà đoán, nếu như cách (và) cục bị thương tổn phá hoại sẽ không cát, dù cho có cơ hội hồi thiên chuyển trục thì cũng không thể kiến công lập nghiệp được." Kim Điếu Thùng (Durobi chú thích: Danh gia mệnh lý thời xưa, có viết quyển Lão Kim Điếu Thùng) đem thành cách phá cách xem là tối quan trọng. Thường các mệnh lý học giả cho rằng cân bằng ngũ hành trong bát tự là điều tối quan trọng, và cho điều hậu dụng thần chỉ sử dụng trong trường hợp đặc biệt,, còn cách cục thì lờ luôn, luận cũng được không luận cũng được. Trước ba cách nói như trên, kẻ hậu học biết nghe ai đây nhỉ?
3. Mỗi khi nhiều loại dụng thần xảy ra giao tranh trên cùng một mệnh cục thì phải xử lý thế nào? Ví dụ ngày Canh kim sinh tháng Ngọ, là Chính Quan cách, nếu muốn thủy điều hậu, thủy là Thực Thương, chẳng phải đã phá Chính Quan cách hay sao? Lại ví dụ Tỉnh Lan Xoa cách, ba ngày Canh Tý Canh Thìn Canh Thân, sinh vào tháng Tý, địa chi Thân Tý Thìn toàn đủ, theo lý thuyết phải dùng hỏa để điều hậu, kim thủy Thương Quan hỷ kiến Quan mà, nhưng cách này lại yêu cầu không được gặp hỏa, ca quyết nói: " Tỵ Ngọ Mùi lâm thì đắng cay, Nhâm Quí phá, Bính Đinh xung, trụ và vận không gặp sẽ hiển danh". Câu này ý gặp Tỵ Ngọ Bính Đinh hỏa thì phá cách. Điều hậu dụng thần không hề được hoan nghênh ở đây. Lúc này điều hậu dụng thần có còn là dụng thần nữa không? Nếu bị thương khắc, mệnh chủ sẽ gặp tai hay không? Còn nữa, lúc dụng thần cân bằng và dụng thần cách cục phát sinh giao chiến thì phải hy sinh ai đây? Những vấn đề này đều là những nút thắt cứng của những ai theo thuyết dùng nhiều dụng thần, không ai thể gỡ được, kể cả chính họ.
Một dụng thần không được, nhiều dụng thần cũng không xong, phải làm sao bây giờ? Có người chủ trương phương pháp sau tiết Đông Chí thì đổi trụ năm, có người đề xướng đại vận không phân biệt nam nữ đều thuận hành, Lữ Văn Nghệ tiên sinh ở Sơn Đông kiên quyết chủ trương phế trừ cổ pháp, thứ nhất không bàn vượng suy, thứ hai không bàn cách cục, thứ ba không bàn dụng thần, thứ tư không bàn thần sát, chỉ dùng chiêu sinh khắc "Lữ thị bát tự mệnh lý" là xong. Nhưng, chẳng lẽ môn đoán mệnh của Từ Tử Bình thật vô dụng vậy sao? Các vị toán mệnh tiên sinh từ xưa tới giờ đều không có công phu thực sự hay sao? Hay là chúng ta đã nhầm lẫn điểm quan trọng nào đó? Như Tống Anh Thành tiên sinh nói: "Có phải chăng hỷ dụng thần mà chúng ta đã dùng khác hẳn với hỷ dụng thần thực sự?"
Vâng, chính xác là như vậy! Người viết sau khi nghiên cứu nghiêm túc, phát hiện hỷ dụng thần của hiện đại mệnh lý và hỷ dụng thần của mệnh lý cổ điển là hai thứ hoàn toàn khác nhau! Có ba chứng cứ như sau:
Thứ nhất, trong ba bộ mệnh lý cổ điển "Uyên Hải Tử Bình", "Tam Mệnh Thông Hội" và "Thần Phong Thông Khảo", không hề tìm thấy cái mà hiện đại mệnh lý gọi là dụng thần! Lật bất cứ sách mệnh lý hiện hành nào chúng ta cũng có thể thấy những chương tiết chuyên luận thuật về dụng thần, từ khái niệm về dụng thần phương pháp chọn dụng thần đều được giới thiệu kỹ càng. Nhưng trong các mệnh lý kinh điển như "Uyên Hải Tử Bình" v.v... lại không thấy bất cứ chương tiết nào chuyên luận thuật về dụng thần, cho dù là một đoạn ngắn cũng không có! Những loại "dụng thần" có tác dụng phù ức, điều hậu, thông quan không hề tìm thấy bất cứ chứng cứ nào trong ba quyển sách mệnh lý cổ này. Trời ạ, dụng thần là thứ quan trọng không thể thiếu được như thế, vậy mà cổ nhân lại không hề có một chuyên đề nào để giới thiệu, có phải là rất kỳ quặc không nhỉ? Đối với mệnh lý hiện hành mà nói, đoán mệnh mà không nhắc tới dụng thần thì chỉ là một kẻ a ma tơ. Thế nhưng tổ tông môn Tử Bình của chúng ta là Từ Tử Bình trong cuốn "Uyên Hải Tử Bình" sao không thấy nhắc tới vấn đề dụng thần vô cùng quan trọng này? Dù có kiệm lời tới đâu thì ít ra cũng để lại một đoạn ngắn chứ? Tiếc rằng chúng ta tìm nát trong mấy cuốn sách mệnh lý cổ kia mà vẫn không thấy! Cái mà chúng ta thấy là cổ nhân dùng đến một phần ba cuốn sách để nói đến cách cục, chuyện này thì sách mệnh lý hiện hành không hề có. Điều này chứng tỏ cái gì? Chứng tỏ rằng chỉ có một khả năng, đó chính là trong sách mệnh lý cổ điển căn bản là không hề có loại dụng thần cân bằng ngũ hành bát tự, nếu như có dụng thần thì e rằng dụng thần chính là cách cục.
Thứ hai, dụng thần của mệnh lý lưu hành hiện đại và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển, đặc trưng của cả hai hoàn toàn không phù hợp nhau. Chủ yếu biểu hiện trong ba mặt sau:
1. Dụng thần của mệnh lý hiện hành đặc trưng chính yếu ở chỗ tính bất khả tổn hại của nó. Dùng lời của Chung Nghĩa Minh tiên sinh trong cuốn "Bát Tự Khí Số Mệnh Lý Học" rằng: "Dụng thần là linh hồn của bát tự", "Nên dụng thần không thể bị thương tổn đến, không bị khắc hại hình xung v.v...". Thế nhưng cổ nhân trong "Tứ Ngôn Độc Bộ" lại chỉ ra rằng: "Cách cách thôi tường, dĩ Sát vi trọng, chế Sát vi quyền, hà sầu tổn dụng". Ý của "Hà sầu tổn dụng" chẳng phải là không sợ tổn hại đến dụng thần hay sao? Trong "Nguyệt Đàm Phú" cũng nói: " Cách hữu khả thủ bất khả thủ, dụng hữu đương khí bất đương khí". Nói rõ có lúc cần đến là có thể vứt luôn dụng thần.
2. Dụng thần của mệnh lý hiện hành, đặc trưng thứ yếu của nó là tính thiểu lượng. Nghĩa là dụng thần đã là điểm cân bằng ngũ hành bát tự thì dụng thần sẽ không thể là ngũ hành chiếm số lượng nhiều, bởi vì tổng cộng chỉ có tám chữ, số lượng nhiều lên sẽ phá vỡ cân bằng mà trở thành bệnh trong mệnh cục, cho nên dụng thần thường chỉ chiếm một hai chữ trong mệnh cục, không thể nhiều hơn. Cũng bởi vì phân lượng dụng thần ít cho nên mới sợ bị tổn hại! Thế mà nguyên chú của chương Thể dụng trong "Tích Thiên Tủy" nói: "Nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Có nghĩa một bát tự mà có ba bốn năm dụng thần thì không phải mệnh tốt. "Cùng Thông Bảo Giám - Tam xuân Giáp mộc luận" nói: "Phàm dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, tiết đi mới hay". Câu này chúng ta còn có thể tìm thấy trong "Tam Mệnh Thông Hội". Vậy đấy, dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển hóa ra còn có lúc đạt đến bốn năm cái, mà còn tiết đi mới tốt nữa!
3. Dụng thần trong mệnh lý hiện hành đặc tính thông thường của nó là tính chỉ có ích mà không có hại. Mệnh lý hiện hành cho rằng bất kể là Tài Quan Ấn Thực hay là Sát Thương Kiêu Nhận, chỉ cần khi được chọn làm dụng thần thì chỉ có ích mà không có hại, giữa chúng không có phân biệt thiện và ác, đã là dụng thần thì không thể bị khắc. Nhưng, dụng thần của cổ nhân không như thế. Chương Luận dụng thần trong "Tử Bình Chân Thuyên" viết: "Tài Quan Ấn Thực, thử dụng thần chi thiện, nhi thuận dụng chi giả dã. Sát Thương Kiêu Nhận, thử dụng thần chi bất thiện, nhi nghịch dụng chi giả dã". Có nghĩa là Tài Quan Ấn Thực là bốn dụng thần thiện, phải bảo hộ nó mà sử dụng. Mà Sát Thương Kiêu Nhận là bốn dụng thần ác, phải chế ước nó mà sử dụng. Đấy, loại dụng thần như vầy thì mệnh lý hiện hành chắc là không có nhỉ!
Thứ ba, cách dùng của dụng thần trong mệnh lý hiện hành và dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển không giống nhau. Mệnh lý hiện hành cho rằng sự vượng suy cường nhược và bị khắc hay không của dụng thần vừa quyết định sự phú quí bần tiện của mệnh chủ và cũng chủ tể cát hung họa phúc của mệnh chủ, tác dụng của nó không có thứ nào khác có thể so sánh được. Nhưng chương Luận tướng thần khẩn yếu trong cuốn "Tử Bình Chân Thuyên" lại chỉ rõ: "Thương dụng thậm ư thương thân, thương tướng thậm ư thương dụng". Ý là thương hại đến dụng thần còn gay go hơn thương hại đến nhật nguyên, mà thương hại đến tướng thần còn gay go hơn thương hại đến dụng thần. Có thể thấy còn có tướng thần quan trọng hơn cả dụng thần. "Ngũ Ngôn Độc Bộ" lại nói: "Có Sát chỉ luận Sát, không có Sát mới luận dụng thần". Ý gì nhỉ? Có Thất Sát chẳng lẽ có thể không cần luận dụng thần hay sao? Câu này mệnh lý hiện hành không giải thích nổi. Trong "Bảo Pháp - Quyển nhị" cũng nói: " Phàm thuật xem Tử Bình, thủ cách bất định, thì xem mười sai đến chín". Chú ý nhé, ở đây nói "Thủ cách bất định" chứ không nói "Thủ dụng bất chuẩn" nhé! Có phải cổ nhân thủ cách (chọn cách cục) rõ là hiệu nghiệm hơn chúng ta ngày nay chọn dụng thần không? Thiên mở đầu của "Tinh Vi Thiên" nói: "Phàm khán nhân mệnh, chuyên luận cách cục. Phùng Quan khán Tài, kiến Tài nhi phú quí. Phùng Sát khán Ấn, hữu Ấn dĩ vinh hoa". Ở đây chỉ cường điệu "Chuyên luận cách cục" chứ không phải chuyên luận dụng thần nhé! Mà còn nói thẳng gặp Quan xem Tài, gặp Ấn xem Quan, không như mệnh lý hiện hành ngày nay trước hết phải xem thân vượng thân nhược, thân vượng thì dụng Tài Quan, thân nhược thì dụng Ấn Tỷ. Tại sao cổ nhân không chú trọng đến tiền đề quan trọng là xem thân vượng thân nhược vậy? Tại sao không nói "Phàm thuật xem Tử Bình, thủ dụng bất chuẩn (xác), xem mười sai hết chín"? Nguyên nhân thì chỉ có một thôi, đó chính là dụng thần mà cổ nhân nói tới khác xa lắc xa lơ với dụng thần mà ngày nay chúng ta nói!
Dông dài hồi lâu, chắc độc giả cũng muốn hỏi thế dụng thần trong sách mệnh lý cổ điển là gì thế?
Kỳ thực, định nghĩa dụng thần của cổ nhân rất đơn giản, tức: Dụng thần chính là vật khả dụng của nguyệt lệnh. Hai chữ "khả dụng" này có hai tầng ý nghĩa, một là có những thứ gì có thể dùng? Hai là dùng vào việc gì?
Nguyệt lệnh có những thứ gì có thể dùng? Có sáu thứ có thể dùng, tức: Tài, Quan, Ấn, Sát, Thực, Thương. Dùng vào việc gì? Dùng để cấu thành CÁCH CỤC. Tức là, dụng thần mà cổ nhân nói tới, kỳ thực chính là VẬT mà nguyệt lệnh dùng đến để cấu thành cách cục.
"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách". Những lời trên của cổ nhân khi nói đến dụng thần, tất cả đều nhấn mạnh tìm ở nguyệt lệnh, các sách đều coi dụng thần với cách cục làm một. Chúng ta chớ có tưởng rằng cổ nhân nói không rõ ràng, không logic (như Từ Lạc Ngô đại sư tưởng thế), nói không rõ sự tồn tại của dụng thần cân bằng nào là phù ức, điều hậu, thông quan. Thực ra trong mắt cổ nhân, dụng thần chính là vật mà nguyệt lệnh dùng để cấu thành cách cục, hoặc nói dụng thần và cách cục là một.
Chính bởi vì dụng thần chỉ là vật mà nguyệt lệnh dùng để định cách, không phải ở bất cứ vị trí nào khác dùng để cân bằng ngũ hành bát tự, cho nên cổ nhân mới gồm dụng thần và cách cục vô làm một, và đem cách cục vật khả dụng của nguyệt lệnh gọi là nội cách, mà cách cục vật không khả dụng của nguyệt lệnh gọi là ngoại cách (xin tham khảo cuốn "Tử Bình Chân Thuyên Bản Nghĩa của tác giả). Chúng ta biết rằng mệnh lý hiện hành chọn dụng thần không chú trọng đến nguyệt lệnh, cho nên cách cục không phân làm nội cách và ngoại cách, hoặc nói không rõ nguyên do sự phân chia nội cách ngoại cách.
Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không hề là mấu chốt của cả bát tự, cho nên có lúc xuất hiện hiện tượng "dụng thần quá nhiều", dụng thần đã quá nhiều thì mới có câu " dụng thần có cái bỏ đi có cái không thể bỏ đi" và "ngại gì mà không tổn đến dụng thần (hà sầu tổn dụng)", thế mới xuất hiện cách cục câu "Khí Ấn tựuTài", "Khí Quan tựu Thực" v.v... Nếu không thì theo lối suy nghĩ của mệnh lý hiện hành thì chẳng ai giải thích rõ được mấy câu trên.
Chính bởi vì dụng thần là vật khả dụng của nguyệt lệnh, không nhất định là thứ có ích đối với nhật chủ, cho nên dụng thần mới phân thiện và ác, với thiện dụng thần Tài, Quan, Ấn, Thực phải sử dụng với tính chất phù trợ, đối với ác dụng thần Sát, Kiêu, Thương, Nhận thì phải sử dụng có tính chế ước. Cho nên "Ngũ Ngôn Độc Bộ" mới nói " Có Sát thì trước tiên luận Sát, không có Sát mới luận dụng", là bởi vì "Các cách suy cho rõ, lấy Sát làm trọng" ấy mà. Dụng thần của mệnh lý hiện hành phải luận trước cả Sát, lại còn không được chế ước Sát nữa.
Có người phản bác: Trong "Thần Phong Thông Khảo" tuy không có chương tiết chuyên luận dụng thần, nhưng còn có "Bệnh dược thuyết" trứ danh đấy thôi? Trương Nam nói "Dược" chẳng phải là dụng thần của mệnh lý hiện hành hay nói hay sao?
Đúng, mệnh lý hiện hành hay lấy thuyết bệnh dược của Trương Nam để mượn làm dụng thần cân bằng. Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ nguyên văn sẽ phát hiện "Dược thần" mà Trương Nam nói chẳng phải là dụng thần cái gì cả. Nguyên văn: "Như dụng Tài kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược dã. Như dụng Thực Thần Thương Quan, dĩ Ấn vi bệnh, hỷ Tài vi dược dã". Ở đây chẳng phải rõ ràng nói trước "Dụng Tài", sau đó mới nói "Kiến Tỷ Kiếp vi bệnh, hỷ kiến Quan Sát vi dược" hay sao? Câu sau "Như dụng Thực Thần Thương Quan", cũng chính là lấy Thực Thần Thương Quan làm dụng thần. Tài là dụng, Tỷ Kiếp là bệnh, Quan Sát là dược ; Thực Thương là dụng, Ấn là bệnh, Tài là dược, ý quá rõ rồi gì nữa? Còn lý do nào để nói dược thần của Trương Nam chính là dụng thần không?
Kỳ thực, dược thần của Trương Nam chính là "Tướng thần" mà "Tử Bình Chân Thuyên" đã nói tới, chẳng qua Trương Nam không gọi nó là tướng thần mà thôi.
Có lẽ sẽ còn có người lấy những câu bình chú của Nhậm Thiết Tiều trong "Tích Thiên Tủy" để phản bác lại, Nhậm nói: "Ví như nhật chủ vượng, đề cương là Quan là Tài hoặc Thực Thương, đều có thể làm dụng. Nhật chủ suy, đừng tìm tứ trụ can chi vật có giúp thân làm dụng...". Dụng thần mà ông nói ở đây chẳng phải dụng thần cân bằng mà mệnh lý hiện hành hay nói sao?
Đúng, sự ra đời của mệnh lý hiện đại e phải lấy Nhậm Thiết Tiều làm công đầu. Vốn nguyên văn "Tích Thiên Tủy" và các sách cổ điển như "Uyên Hải Tử Bình" là nhất mạch tương thừa, nhưng qua tay hậu nhân chú thích, đặc biệt là sau khi qua tay Nhậm lão tiên sinh chú thích, thì cuốn "Tích Thiên Tủy" đã trở thành nền móng cho mệnh lý hiện hành.
Nhậm Thiết Tiều chú thích chương Bát cách trong cuốn "Tích Thiên Tủy": "Bát cách giả, mệnh trung chính lý dã. Tiên quan nguyệt lệnh sở đắc hà chi, thứ khán thiên can thấu xuất hà thần, tái cứu tư hà lệnh dĩ định chân giả, nhiên hậu thủ dụng, dĩ phân thanh trọc, thử thực y kinh thuận lý, nhược nguyệt phùng Lộc Nhận, vô cách khả thủ, tu thẩm nhật chủ chi hỷ kỵ, lánh tầm biệt chi thấu xuất thiên can giả, tá dĩ vi dụng". (Tám cách là chính lý trong mệnh. Trước phải xem nguyệt lệnh là chi gì, sau xem thiên can thấu xuất thần gì, tiếp coi cái gì nắm lệnh để định thật giả, sau đó chọn dụng thần để phân chia sự thanh trọc, đó thực là thuận lý theo kinh sách, nếu nguyệt lệnh là Lộc Nhận thì không chọn được cách, phải xem xét hỷ kỵ của nhật chủ mà tìm chi khác thấu thiên can mượn đỡ mà dùng). Có thể thấy, phương pháp thủ dụng định cách của họ Nhậm là cơ bản thống nhất với phương pháp "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh", "Nguyệt Kiếp vô dụng, lánh tầm ngoại cách" trong "Tử Bình Chân Thuyên". Tiếc thay, họ Nhậm không hề thông hiểu mật pháp luận cách cục truyền thống này ("Tích Thiên Tủy" luận cách không kỹ càng bằng "Tử Bình Chân Thuyên"), trong khi gặp khó khăn trong lúc luận mệnh, ông đã không kiên trì giữ vững phương pháp này nữa. Cho nên ông sau chương "Bát cách" lại nói rằng: "Từ mấy mệnh trên có thể thấy, cách cục không thể chấp nhất. Không nên câu thúc ở các cách Tài Quan Ấn..., không liên can gì đến nhật trụ, vượng thì nên ức chế, suy thì nên phù trợ, Ấn vượng tiết Quan mừng Tài tinh, Ấn suy gặp Tài mừng Tỷ Kiếp, đây là phương pháp không thay đổi được". Hèn gì, kiểu phương pháp luận mệnh khinh cách cục, trọng cân bằng này của Nhậm Thiết Tiều chính là lam bản cho mệnh lý hiện hành ngày nay.
Còn chuyện nữa càng khiến người ta tiếc rẻ, sau Nhậm Thiết Tiều là Từ Lạc Ngô đại sư, ông chú thích "Tích Thiên Tủy" mà vô cùng sai lệch nguyên chú, làm cho kẻ hậu học dễ hiểu nhầm nguyên văn, từ đó trượt luôn vào vũng lầy mệnh lý hiện hành. Ví dụ như chương "Thể dụng" của "Tích Thiên Tủy" nguyên chú thích nói rằng: "...nhi nhị tam tứ ngũ dụng thần giả, đích phi diệu tạo". Ý là khi nguyệt lệnh dụng thần số lượng đạt tới bốn hoặc năm, như vậy thì không phải là mệnh tốt nữa. Ví dụ như nguyệt lệnh là Ấn tinh, khi có hai ba Ấn tinh nếu có Tài tinh khắc Ấn, cách cục sẽ thành "Khí Ấn tựu Tài" cách. Nếu Ấn lên tới bốn năm, Tài tinh sẽ không thể nào khắc Ấn được nữa, tốt nhất là dùng Tỷ Kiếp để tiết bớt Ấn, giống như ý của "Cùng Thông Bảo Giám" nói "Hễ dụng thần quá nhiều, không nên khắc chế, cần phải tiết đi mới hay". Nhưng nếu Ấn quá nhiều, một là không có Tài khắc, hai là không có Tỷ Kiếp hóa tiết, vậy nhất định không phải mệnh tốt rồi.
Ấy thế mà do Nhậm Thiết Tiều không hoàn toàn hiểu hết được khái niệm dụng thần này, cho nên khi ông phê chú đoạn trên bèn nói: "Nguyên chú nói rằng: hai ba bốn năm dụng thần thực không phải mệnh tốt. Đấy là nói bậy! Chỉ có tám chữ mà nếu khử đi bốn năm chữ dụng thần thì trừ nhật can ra chỉ có hai chữ không dùng, làm sao thế được!". Nghe ý ông là hiểu không thể có trường hợp một mệnh tạo mà có đến bốn năm dụng thần.
Từ Lạc Ngô đại sư cũng nói đế vào phụ cho họ Nhậm, nói rằng: "Như câu trong nguyên chú hai ba bốn năm dụng thần, họ Nhậm bài xích là phải. Dụng thần làm sao có hai được nói chi đến ba bốn năm dụng thần! (Xem chương Thể dụng tinh thần trong cuốn "Tích Thiên Tủy Bổ Chú của Từ Lạc Ngô)". Ông khăng khăng dụng thần chỉ có một mà thôi, tuyệt không có hai, nói gì đến bốn năm dụng thần! Ông đâu có biết, dụng thần mà nguyên chú "Tích Thiên Tủy" nói hoàn toàn không phải loại dụng thần mà ông và Nhậm Thiết Tiều nghĩ!
Thật là "Một chữ sai, toàn bàn hỏng bét", dụng thần mà sai rồi thì phương pháp luận mệnh cũng sai theo! Không ai ngờ và nghĩ được rằng như hai vị đại sư cấp nhân vật trong làng mệnh lý là Nhậm Thiết Tiều và Từ Lạc Ngô lại nhầm lẫn khái niệm hạch tâm nhất, cơ bản nhất, quan trọng nhất của mệnh học --- DỤNG THẦN!
Con rùa bò phía trước mở đường, con rùa phía sau bò theo. Cứ thế, ngàn ngàn vạn vạn kẻ hậu học theo sau đít hai ông Nhậm, Từ, thoát li khỏi tư tưởng chính tông của Từ Tử Bình, nhắm đến vũng lầy mệnh lý hiện hành vô biên vô tế phía trước mà tiến bước......
Lão Tử nói rất hay, "Ngũ sắc khiến người ta mù". Chỉ có mấy ông thầy bói mù (manh sư) mắt không nhìn được ngũ sắc nữa mới không mù quáng đi theo Nhậm, Từ. Họ đã không thể đọc các danh trước mệnh học của hai ông, cũng không thể tham duyệt tư liệu mệnh lý hiện hành, cho nên họ không bị bất cứ ảnh hưởng nào của mệnh lý hiện đại, vẫn cứ y theo phương pháp xa xưa của Tử Bình mệnh học. Có lẽ họ luận cách tinh xác không bằng "Tử Bình Chân Thuyên", hoặc họ mỗi người có một pho ca quyết luận mệnh cho riêng mình, nhưng khái niệm dụng thần và luận mệnh phép tắc là nhất mạch tương truyền với các kinh điển mệnh lý "Uyên Hải Tử Bình", "Thần Phong Thông Khảo", "Tam Mệnh Thông Hội", "Tử Bình Chân Thuyên" và "Tứ Ngôn Độc Bộ". Người viết quen biết một vị manh sư họ Dương, công phu của ông rất tinh thâm, nổi danh một vùng. Ông có thể thuộc lòng các ca quyết cổ điển như " Tứ Ngôn Độc Bộ", "Ngũ Ngôn Độc Bộ" và "Nguyệt Đàm Phú" v.v..., nhưng ông không hề biết tý gì về cái gọi là dụng thần cân bằng như phù ức, điều hậu, thông quan. Ông cũng giống như nhiều vị manh sư khác, bình thường chỉ nói về cách cục, không nói dụng thần, bởi vì ông giải thích rằng dụng thần chính là cách cục!
Đấy chính là bộ mặt thật của dụng thần, cho dù các thầy mệnh lý hiện đại mở miệng ra là nói tới nhưng cũng không biết tới nó!
Durobi dịch
Bổ sung chuyển từ Hán Việt ra Việt ngữ đoạn này, đoạn thứ 22 từ trên xuống, lúc dịch quên béng mất...
"Tử Bình Chân Thuyên - Luận dụng thần" nói rằng: "Bát tự dụng thần, chuyên cầu nguyệt lệnh. Dĩ nhật can phối nguyệt lệnh địa chi, nhi sinh khắc bất đồng, cách cục phân yên". "Thần Phong Thông Khảo - Thủ cách chỉ quyết ca đoán" nói rằng: "Dĩ nhật vi chủ bản, nhi thủ đề cương vi dụng. Thứ cập niên nguyệt nhật vi thực, phùng Quan khán Tài, phùng Tài khán Sát, phùng Sát khán Ấn, phùng Ấn khán Quan". "Bảo Pháp - Quyển nhị" nói: "Tử Bình chi thuật, dĩ nhật tử vi chủ, tiên khán đề cương vi trọng, thứ dụng niên nguyệt nhật thời chi, hội thành cách cục phương khả đoán chi, giai dĩ nguyệt lệnh vi dụng, bất khả dĩ niên thủ cách".
Chương Luận dụng thần trong sách Tử Bình Chân Thuyên nói rằng: " Dụng thần của bát tự, nên tìm ở lệnh tháng mà thôi. Lấy nhật can phối hợp với địa chi lệnh tháng, bởi do sinh khắc không giống nhau nên phân ra các loại cách cục".
Chương Thủ cách chỉ quyết ca đoán trong sách Thần Phong Thông Khảo nói rằng: "Lấy ngày làm thân gốc, mà lấy đề cương (lệnh tháng) làm dụng. Thứ đến lấy năm tháng ngày làm quả, gặp Quan thì phải xem Tài, gặp Tài thì phải xem Sát, gặp Sát thì phải xem Ấn, gặp Ấn thì phải xem Quan".
Quyển thứ hai của sách Bảo Pháp nói rằng: " Thuật xem Tử Bình, lấy ngày làm chủ, trước hết phải xem đề cương (lệnh tháng) là điểm quan trọng, kế đến dùng chi năm tháng ngày giờ, hội thành cách cục rồi mới có thể đoán, thường các trường hợp đều lấy lệnh tháng làm dụng, không được lấy năm để chọn cách.
(Nguồn: sưu tầm)

Xông đất đầu năm hay xông nhà đầu năm là phong tục cổ truyền từ nhiều đời nay của người dân Việt. Cha ông chúng ta quan niệm rằng nếu đầu năm mà mọi việc đều thuận lợi suôn sẻ thì cả năm sẽ được may mắn và hanh thông trong nhiều công chuyện.
Vị khách đầu tiên đến nhà trong những ngày năm mới sẽ mang theo những niềm vui và hy vọng về sự tốt đẹp, anh lành của chủ nhà trong năm tới. Bởi vậy, việc lựa chọn một vị khách xông nhà đầu năm cực kỳ quan trọng.
Có nhiều cách để chọn lựa một vị khách hợp với tuổi của chủ nhà, tùy theo từng mức độ. Nhưng về nguyên tắc cơ bản là chọn lựa được người hợp tuổi, lại không bị xung với Thái Tuế, không kị với tuổi của chủ nhà. Ngoài ra, tính tình, địa vị và phẩm chất của người đó cũng sẽ được lựa chọn một cách cẩn thận tùy vào sở hiếu của chủ nhà. Có thể là người hoạt bát, vui vẻ; cũng có thể là người trầm tĩnh nhưng giỏi giang v.v.v
Sau đây là bảng tra tuổi xông đất năm 2017 tốt nhất dành cho chủ nhà đã được lập sẵn:
Chủ nhà tuổi Tý:
Chủ nhà tuổi Sửu:
Chủ nhà tuổi Dần:
Chủ nhà tuổi Mão:
Chủ nhà tuổi Thìn:
Chủ nhà tuổi Tỵ:
Chủ nhà tuổi Ngọ:
Chủ nhà tuổi Mùi:
Chủ nhà tuổi Thân:
Chủ nhà tuổi Dậu:
Chủ nhà tuổi Tuất:
Chủ nhà tuổi Hợi:
Theo tục cổ truyền của người Việt, Táo quân gồm hai ông và một bà, tượng trưng là 3 cỗ "đầu rau" hay "chiếc kiềng 3 chân" ở nơi nhà bếp của người Việt ngày xưa.
Táo quân cũng còn gọi là Táo Công, là vị thần bảo vệ nơi gia đình mình cư ngụ và thường được thờ ở nơi nhà bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp.
Vị Táo quân quanh năm chỉ ở trong bếp, biết hết mọi chuyện trong nhà, nên để Vua Bếp "phù trợ" cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa ông Táo về chầu ông Trời rất trọng thể.
Vào ngày 23 tháng Chạp, Táo quân sẽ cưỡi cá chép lên Thiên đình để báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Ngọc Hoàng Thượng đế. Cho đến đêm Giao thừa Táo Quân mới trở lại trần gian để tiếp tục công việc coi sóc bếp lửa của mình.
Do đó, từ xa xưa, người dân Việt đã ngưỡng mộ lòng chung thủy của Ông Táo và thờ cúng Ông Táo với hi vọng Táo Quân sẽ giúp họ giữ “bếp lửa” trong gia đình luôn nồng ấm và hạnh phúc.

Bếp lửa là nguồn sống, nơi nuôi dưỡng tâm hồn. Ảnh: Đ. Tuỳ
Ni sư Thích Diệu Ngân - Phó trưởng Ban trị sự GHPG Thành phố Hải Dương, trụ trì chùa Linh Sơn Vạn Phúc cho rằng: "Theo quan niệm của nhà Phật, việc tôn vinh bếp lửa trong ngày 23 tháng Chạp là tôn vinh những vị Thần đã có công giúp chăm lo cho gia đình trong năm".
Việc tôn vinh này tuỳ thuộc vào tâm hướng Phật của mọi người, không có một quy định nào cụ thể cả. Tuy nhiên, đây là một nét đẹp văn hoá dân gian và từ trước đến nay dân ta vẫn thực hiện.
Nhà sử học Tăng Bá Hoành (Nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hải Dương) khẳng định: "Bếp lửa có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người từ thời tiền sử, không có lửa con người không tiến bộ được. Không có lửa chúng ta không nấu chín được thức ăn để nuôi sống chính bản thân và giúp ta tồn tại".
Cho nên lửa gắn liền với bếp, bếp gắp liền với sự tích ông Công, ông Táo. Dù cách gọi có khác nhau thì vai trò của bếp lửa đối với gia đình người Việt là rất quan trọng. Ở nước Đức, bếp lửa là nguồn sống, có ý nghĩa tương tự như Tổ quốc.

Kính trọng các vị Thần tức là chúng ta tôn trọng bếp lửa. Ảnh: Đ. Tuỳ
Để quan trọng hoá bếp lửa thì phải có ông Thần giữ bếp - Táo quân. Có nhiều truyền thuyết xung quanh vấn đề này, nhưng thực chất là tôn vinh cái bếp, nhờ bếp lửa mà chúng ta sống.
Khi tưởng tượng chúng ta không tìm ra lửa thì thì cuộc sống sẽ thế nào. Nếu như đợt rét lịch sử gần 40 năm vừa rồi mà không có lửa có lẽ chúng ta không thể tồn tại .
Cuối năm ông Táo coi bếp đi báo với Thiên đình tất cả những việc làm xấu tốt trong gia đình. Vì trong cái bếp có gì các vị Thần biết hết. Từ đó trở thành một thứ tín ngưỡng không khác gì là thờ Thần tài trong truyền thuyết.
Cũng theo nhà sử học Tăng Bá Hoành, khi tôn trọng bếp lửa, tức là chúng ta tôn trọng các vị Thần của gia đình. Vì vậy, chúng ta phải thắp hương và thả cá chép.Thắp hương là biểu hiện cho sự kính trọng. Khi thắp hương như một sự thông báo việc gia đình tôn thờ các vị Thần.
Người đời nghĩ rằng khi làm như vậy người quá cố sẽ nghe thấy để về chứng dám, thể hiện sự trong sáng kính trọng thiêng liêng nhất.
Do vậy, dù chúng ta sống bất cứ ở hoàn cảnh nào, thời kỳ nào thì việc tôn vinh bếp lửa trong ngày 23 tháng Chạp là việc nên làm của mỗi người và mỗi gia đình.
No.1: Tuổi Dần
Những teen tuổi Dần sẽ có một tháng vô cùng thuận lợi. Mọi khó khăn, trăn trở trong tháng Cô hồn sẽ tan biến, thay vào đó Thần May mắn sẽ gõ cửa nhà bạn thường xuyên. Không chỉ suôn sẻ ở công việc, học hành, mà chuyện tình cảm của bạn cũng được cải thiện đáng kể. Những xích mích, hiểu lầm sẽ được hóa giải.
Ngoài ra, mọi quan hệ của bạn đều có bước tiến mới. Mọi người nhìn nhận bạn một cách tích cực hơn. Bởi lẽ, tháng 8 âm này, bạn căng tràn năng lượng, chủ động làm việc và thể hiện sự cởi mở. Từ đó, càng nhiều bạn bè sẵn sàng giúp đỡ, vận may càng đến với bạn.
![]() |
No.2: Tuổi Mùi
Khác với người tuổi Dần, tuổi Mùi tiếp nối vận may trong tháng 7 trước đó, mặc dù mọi sự suôn sẻ, thuận lợi hơn không đáng kể. Đặc biệt trong chuyện tình yêu, người giàu cảm xúc như con giáp này, chắc chắn sẽ tìm được đối tượng đồng cảm và mối quan hệ sẽ có bước nhảy vọt. Thậm chí, bạn vui vẻ tới mức vội vã kết luận đó chính là một nửa đích thực của mình.
Một vài cơ hội thăng tiến cũng đến với teen cầm tinh con dê. Chỉ có điều, tính khí nhút nhát sẽ kìm hãm động lực để con giáp này nắm bắt đúng thời cơ. Hãy mạnh dạn thể hiện bản thân, vận may còn đến liên tục và mạnh mẽ hơn nữa.
![]() |
No.3: Tuổi Tỵ
Tháng 8 đánh dấu thành công của người tuổi Tỵ trong công việc hoặc học tập. Bạn sẽ ghi được cú đúp về thành tích, thậm chí là xuất hiện trên một số kênh thông tin đại chúng vì kết quả ấy. Vận may đến với con giáp này trong hoàn cảnh bất ngờ, nên niềm vui càng được nhân lên gấp nhiều lần.
Tài chính của người tuổi Tỵ cũng nở rộ trong tháng 8 âm. Một vài cơ hội kiếm tiền dễ như trở bàn tay sẽ xuất hiện và giúp con giáp này bội thu. Cho dù hào phóng chi tiêu, bạn vẫn không lo hết tiền, thậm chí đó còn là động lực giúp bạn lao vào “cày cuốc” nhiều hơn.
![]() |
Mr.Bull (theo DT)
![]() |
Top 3 con giáp gặp vận tiền tài trong tháng 9 |
Hành: ThủyLoại: Thiện TinhĐặc Tính: Vui vẻ, may mắn về công danh, hôn nhân, giải trừ được bệnh tật, tai họa nhỏ Tên gọi tắt thường gặp: Long
Phụ tinh. Sao thứ 3 trong 12 sao thuộc vòng sao Bác Sĩ theo thứ tự: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ.
Ý Nghĩa Thanh Long Ở Cung Mệnh
Tướng Mạo
Sao Thanh Long ở Mệnh thì gương mặt tuấn tú, phương phi, cốt cách sang trọng.
Tính Tình
Nếu :
@ Số lượng ký tự nhỏ hơn 8 (<8) ta giữ nguyên trị số
@ Số lượng ký tự bằng, lớn hơn 8 , ta trừ đi 8. VD: Số lượng 8, 8 – 8 = 0. ta lấy 0.
Số lượng ký tự bằng hoặc lớn hơn 16, ta trừ đi 16. VD: Số lượng 18 – 16 = 2, ta lấy 2.
VÍ DỤ : Trịnh Kiến Vy. Trịnh: 6 ; Kiến: 5 ; Vy: 2.
Trịnh / Kiến Vy : 6 / 7. Tra bảng 3, ta có: Thuỷ Sơn Kiển, với :
Tính Cách Trội :
- Thuyết Âm Dương cho ta 4 trạng thái: Âm, cực âm, dương, cực dương. Căn cứ vào đây, tôi thiết lập 4 trạng thái của 1 hình thái tính cách:
Bản chất, tôi gọi là Tính Cách Thật
Khi thể hiện thái quá, gọi là Thật Thái Quá
Khi tính cách thật thể hiện ngược, tôi gọi là Tính Giả
Khi tính giả thể hiện thái quá, tôi gọi là Giả Cực Đoan.
- Do vậy ví dụ trên sẽ được trình bày như sau:
Tính cách thật: Siêng năng
Thật thái Quá : Siêng năng thái quá
Tính Giả : Biếng nhác
Giả Cực Đoan : Biếng nhác cực đoan.
- Tôi giới thiệu bảng Định vị thành phần xã hội sau:
Thoắt cái mà 4 tháng đầu năm đã trôi qua, bước vào giai đoạn cạnh tranh khốc liệt nhất, cần có sự bứt phá mạnh mẽ nhất trong công việc. Nếu gặp may mắn và có sự hỗ trợ từ bên ngoài thì mọi chuyện sẽ có tiến triển nhanh hơn. Cùng điểm danh những chòm sao có sự nghiệp thành công nhất tháng 5.
![]() |
![]() |
| ► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem tướng và xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Cùng tìm hiểu ý nghĩa của 50 tên dành cho các bé trong năm 2016 này nhé.
Tên ý nghĩa cho bé trai năm 2016
Các tên theo vần từ A – N
1. THIÊN ÂN – Con là ân huệ từ trời cao
2. GIA BẢO – Của để dành của bố mẹ đấy
3. THÀNH CÔNG – Mong con luôn đạt được mục đích
4. TRUNG DŨNG – Con là chàng trai dũng cảm và trung thành
5. THÁI DƯƠNG – Vầng mặt trời của bố mẹ
6. HẢI ĐĂNG – Con là ngọn đèn sáng giữa biển đêm
7. THÀNH ĐẠT – Mong con làm nên sự nghiệp
8. THÔNG ĐẠT – Hãy là người sáng suốt, hiểu biết mọi việc đời
9. PHÚC ĐIỀN – Mong con luôn làm điều thiện
10. TÀI ĐỨC – Hãy là 1 chàng trai tài dức vẹn toàn
11. MẠNH HÙNG – Người đàn ông vạm vỡ
12. CHẤN HƯNG – Con ở đâu, nơi đó sẽ thịnh vượng hơn
13. BẢO KHÁNH – Con là chiếc chuông quý giá
14. KHANG KIỆN – Ba mẹ mong con sống bình yên và khoẻ mạnh
15. ĐĂNG KHOA – Con hãy thi đỗ trong mọi kỳ thi nhé
16. TUẤN KIỆT – Mong con trở thành người xuất chúng trong thiên hạ
17. THANH LIÊM – Con hãy sống trong sạch
18. HIỀN MINH – Mong con là người tài đức và sáng suốt
19. THIỆN NGÔN – Hãy nói những lời chân thật nhé con
20. THỤ NHÂN – Trồng người
21. MINH NHẬT – Con hãy là một mặt trời
22. NHÂN NGHĨA – Hãy biết yêu thương người khác nhé con
23. TRỌNG NGHĨA – Hãy quý trọng chữ nghĩa trong đời
24. TRUNG NGHĨA – Hai đức tính mà ba mẹ luôn mong con hãy giữ lấy
25. KHÔI NGUYÊN – Mong con luôn đỗ đầu.
Các tên theo vần từ N – V
26. HẠO NHIÊN – Hãy sống ngay thẳng, chính trực
27. PHƯƠNG PHI – Con hãy trở thành người khoẻ mạnh, hào hiệp
28. THANH PHONG – Hãy là ngọn gió mát con nhé
29. HỮU PHƯỚC – Mong đường đời con phẳng lặng, nhiều may mắn
30. MINH QUÂN – Con sẽ luôn anh minh và công bằng
31. ĐÔNG QUÂN – Con là vị thần của mặt trời, của mùa xuân
32. SƠN QUÂN – Vị minh quân của núi rừng
33. TÙNG QUÂN – Con sẽ luôn là chỗ dựa của mọi người
34. ÁI QUỐC – Hãy yêu đất nước mình
35. THÁI SƠN – Con mạnh mẽ, vĩ đại như ngọn núi cao
36. TRƯỜNG SƠN – Con là dải núi hùng vĩ, trường thành của đất nước
37. THIỆN TÂM – Dù cuộc đời có thế nào đi nữa, mong con hãy giữ một tấm lòng trong sáng
38. THẠCH TÙNG – Hãy sống vững chãi như cây thông đá
39. AN TƯỜNG – Con sẽ sống an nhàn, vui sướng
40. ANH THÁI – Cuộc đời con sẽ bình yên, an nhàn
41. THANH THẾ – Con sẽ có uy tín, thế lực và tiếng tăm
42. CHIẾN THẮNG – Con sẽ luôn tranh đấu và giành chiến thắng
43. TOÀN THẮNG – Con sẽ đạt được mục đích trong cuộc sống
44. MINH TRIẾT – Mong con hãy biết nhìn xa trông rộng, sáng suốt, hiểu biết thời thế
45. ĐÌNH TRUNG – Con là điểm tựa của bố mẹ
46. KIẾN VĂN – Con là người có học thức và kinh nghiệm
47. NHÂN VĂN – Hãy học để trở thành người có học thức, chữ nghĩa
48. KHÔI VĨ – Con là chàng trai đẹp và mạnh mẽ
49. QUANG VINH – Cuộc đời của con sẽ rực rỡ,
50. UY VŨ – Con có sức mạnh và uy tín.
Ngược lại hoàn toàn với “góc thiếu”, “lồi ra” thường đem lại hiệu quả tích cực. Song không phải góc lồi nào cũng là cát lợi. Cải tạo góc lồi bằng cách: cắt bỏ phần lồi ra hoặc xây thêm vào phần lồi ra.

Nếu nhà lồi ra ở hướng Đông Bắc thì xây thêm một gian nhà từ Đông sang Đông Nam. Nếu nhà lồi ra ở hướng Tây Nam thì có thể xây thêm một gian nhà từ Tây sang Tây Bắc, sử dụng cả hai cách trên có thể chuyển thành hướng cát. Nhưng sau khi xây thêm, không được cắt cử phạm vi sử dụng. Nếu như không đủ khả năng để cải tạo xây dựng thì đành phải trồng cây xanh ở hướng chếch ngoài của phần lồi ra Quỉ Môn, nhưng cách này chỉ có thể giảm nhẹ tai hoạ thôi.
Có nhiều cách để xem bói tình yêu, chọn tuổi hợp mệnh nam nữ, chọn tuổi kết hôn..., dưới đây là cách xem nhân duyên sinh khắc qua 30 cặp mệnh nạp âm trong lục thập hoa giáp.
Mục lục (Click vào đây để tới nội dung muốn xem nhanh nhất)
Tại sao 2 tuổi này gọi là Sa Trung Kim (vàng trong cát): vì Ngọ là Đế vượng của Hỏa, khi Hỏa vượng thì Kim suy. Mùi là nơi Hỏa suy trong vòng trường sinh, Hỏa suy thì Kim trưởng thành nhưng Kim nhỏ giọt, ít ỏi chưa thể khởi vượng nên gọi là vàng trong cát.
Sa Trung Kim mới được hình thành, chưa thể dùng được nên cần có Hỏa để tôi luyện. Có thể dùng Sơn Đầu Hỏa, Phúc Đăng Hỏa, Sơn Hạ Hỏa để luyện Kim.
Sa Trung Kim cần có Thủy tĩnh, nên sợ gặp Trường Lưu Thủy, Đại Hải Thủy vì nó sẽ bị đem cát vùi đi. Cho nên cần phối hợp với Giản Hạ Thủy, Tuyền Trung Thủy, Thiên Hà Thủy mới tốt. Mệnh này sợ gặp Lộ Bàng Thổ vì sẽ làm Kim bị chôn vùi. Lưu ý, mệnh này không kị Hỏa mà nhờ Hỏa mới rèn giũa thành báu vật.
Để biết hai tuổi có hợp mệnh kết hôn hay không, bạn có thể tham khảo mục tra cứu Bói tình yêu - Xem bói tình duyên qua ngày tháng năm sinh của hai người.
![]() |
Gọi là Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi) vì Thân Kim là cửa nở xuống dưới đất, Dậu là nơi về của thái dương. Hỏa lâm Bệnh ở Thân, Tử ở Dậu, như ánh dương khuất núi, gọi là lửa dưới núi.
Mặt trời đã xuống núi thì tự nhiên gặp Thổ gặp Mộc là tốt. Mệnh này không thích hợp với Tích Lịch Hỏa, Thiên Thượng Hỏa và Phúc Đăng Hỏa. Mệnh này không kỵ Thủy, nếu gặp Thủy suốt đời gần bậc đế vương.
Vì sao gọi 2 tuổi này là Bình Địa Mộc (cây đồng bằng): vì nghĩa của Mậu là đồng bằng, Hợi là nơi sinh ra Mộc. Cây sinh ra ở đồng bằng không thể thành quần thể lớn mà chỉ là những đám nhỏ, cho nên gọi là cây đồng bằng.
Mệnh này sợ Kim, thích Thủy, Thổ và Mộc. Theo các nhà Dịch học xưa, người mệnh Mộc bị người mệnh Kim khắc, nhưng người Bình Địa Mộc gặp người mệnh Kim mới cao đặng, tức bị đẵn chặt mới chế biến thành vật quý.
Sở dĩ gọi là Bích Thượng Thổ (đất trên tường) vì Sửu là chính vị của Thổ, nhưng Tý là nơi Thủy vượng. Thổ gặp Thủy vượng tràn lan mà biến thành bùn, cho nên chỉ có thể đắp đập xây thành, nên gọi là đất trên tường.
Đất trên tường dùng để xây dựng, làm nhà, đầu tiên phải dựng cột, xà nên gặp Mộc sẽ tốt, gặp Hỏa thì xấu, gặp Thủy cũng được, nhưng không phải là Đại Hải Thủy. Mệnh này thích Kim Bạch Kim.
Xem thêm: Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Thổ
Gọi là Kim Bạch Kim (vàng pha bạc) vì Dần Mão là nơi Mộc vượng, Mộc vượng khiến Kim suy. Trong vòng trường sinh, Kim lại Tuyệt ở Dần, Thai ở Mão, nên tính Kim ở đây mềm yếu, không có lực nên gọi là vàng pha bạc hay kim loại màu.
Kim Bạch Kim gặp Bích Thượng Thổ, Thành Đầu Thổ mới có cơ hội phát triển. Mệnh này kỵ người mệnh Hỏa.
![]() |
Tại sao gọi 2 tuổi này là Phú Đăng Hỏa (lửa ngọn đèn) vì Thìn đã là trời sáng, Tị sắp đến buổi trưa. Khi mặt trời tỏa sáng, không phải đốt đèn chiếu sáng, cho nên coi ánh sáng mặt trời lúc này như ngọn lửa đèn.
Lửa ngọn đèn là chiếu sáng ban đêm, nó không tách rời gỗ (Mộc) và dầu (Thủy), nên mệnh này gặp Mộc và Thủy đều tốt. Nó chỉ kỵ Hỏa mặt trời, hỏa sấm sét. Nếu gặp Tuyền Trung Thủy hay Kiếm Phong Kim sẽ thành quý.
Mệnh này sợ gặp Thổ trong ngũ hành, trừ Ốc Thượng Thổ. Người mệnh này kỵ gặp người mệnh Thủy.
Gọi là Thiên Hà Thủy tức nước trên trời là vì Bính Đinh thuộc Hỏa, Ngọ là nơi Hỏa vượng, ấy vậy mà sinh ra Thủy, Thủy từ Hỏa xuất thì chỉ có từ trên trời xuống. Nguyên khí lên cao, khí thế sung túc hóa thành mây mù rơi xuống thành mưa, thúc đẩy sự sinh trưởng của vạn vật.
Nước trên trời vốn ở cao, nên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ dưới đất không thể khắc chế được nó. Duy chỉ có Bích Thượng Thổ là tương xung Thiên Hà Thủy.
Nguyên nhân gọi 2 tuổi này là Đại Trạch Thổ là vì Thân thuộc Khôn là đất. Dậu thuộc Đoài là đầm nước (trạch). Chữ dịch có một nửa chữ trạch, thật ra phải gọi bằng trạch thổ.
Mệnh này thích Tuyền Trung Thủy, Giản Hạ Thủy, Trường Lưu Thủy. Đồng thời Đại Trạch Thổ hợp với Kim Bạch Kim, Thoa Xuyến Kim. Người mệnh này gặp Mộc thì cuộc đời đặng thanh cao. Nhưng kỵ Đại Hải Thủy, Sơn Đầu Hỏa, Phú Đăng Hỏa.
Vì sao lại gọi 2 tuổi này là Thoa Xuyến Kim (vàng trang sức): vì theo vòng trường sinh, Kim Suy ở Tuất, Bệnh tại Hợi. Kim đã suy lại bệnh nên nhuyễn nhược, dùng để làm đồ trang sức.
Thoa Xuyến Kim sợ gặp Hỏa, thích gặp Thủy như Tuyền Trung Thủy, Giản Hạ Thủy, Trường Lưu Thủy, song lại kỵ gặp Đại Hải Thủy. Mệnh này cũng hợp với Sa Trung Thổ, vì Thổ sinh Kim.
Có thể bạn quan tâm: Tổng hợp ý nghĩa các nạp âm của ngũ hành Kim
Sở dĩ gọi 2 tuổi này là Tang Đố Mộc (gỗ cây dâu) vì Tý thuộc Thủy (sinh Mộc), Sửu thuộc Thổ (sinh Kim). Thủy vừa sinh Mộc, Kim đã phạt Mộc như hình tượng của cây dâu vừa trổ lá non đã bị hái xuống mà nuôi tằm.
Gỗ cây dâu Sa Trung Thổ, Lộ Bàng Thổ, Đại Dịch Thổ thì rất tốt. Nếu gặp Tràng Lưu Thủy, Giản Hạ Thủy cũng giúp nó tươi tốt. Gặp Tùng Bách Mộc là mạnh yếu giúp đỡ lẫn nhau. Nếu gặp chính bản mệnh thì gọi là “Dâu liễu thành rừng”, là cảnh an cư lạc nghiệp.
Gặp Đại Lâm Mộc thì tốt, ví như nhánh sông nhỏ gặp nhánh sông lớn. Chỉ có gặp Thạch Lựu Mộc, Bình Địa Mộc mới bị tàn phá, chèn ép. Thêm nữa, Tang Đố Mộc kỵ người mệnh Kim.
![]() |
Trong tử vi, gọi là Đại Khê Thủy (nước suối lớn) vì Dần Mão thuộc phương Đông, Dần là nơi gió Đông vượng. Mão ở chính Đông, nếu hướng chảy chính Đông thì vô cùng thuận lợi, hội tụ thành dòng chảy ra sông mà thành suối lớn. Nước suối lớn cần chảy về biển liên tục không dứt.
Do đó, Đại Khê Thủy nên gặp Kim để được sinh. Nếu gặp các loại Thổ khắc hoặc phải sinh Mộc đều không hay, chỉ gặp Tang Đố Mộc là được. Người mệnh này nếu gặp người mệnh Thổ thì suốt đời không được ấm no.
Nguyên nhân gọi 2 tuổi này là Sa Trung Thổ (cát trong đất hoặc đất bãi cát): vì Thìn khố Tị tuyệt, Thiên can Bính Đinh đều thuộc Hỏa. Thổ vào tuyệt địa, đến chổ ẩn tàng (khố) lại được Hỏa sinh như được làm mới tất cả, giống như tro khi đốt bay lên trên trời rồi rơi xuống thành Thổ, nên mới gọi là cát trong đất.
Sa Trung Thổ gặp Thủy gặp Kim là quý, gặp Thiên Thượng Hỏa là thích. Nó cũng thích gặp Tang Đố Mộc và Dương Liễu Mộc, vì 2 loại cây này có cát mới tốt. Ngoài ra các loại Mộc và Hỏa khác đều không tốt.
Lý do gọi 2 tuổi này là Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời) bởi vì Ngọ là nơi Hỏa Vượng, Mùi Kỷ đều là Mộc, mà Mộc lại sinh Hỏa, làm cho Hỏa càng vượng. Hỏa mạnh bốc lên trên trời nên gọi là lửa trên trời.
Thiên Thượng Hỏa thích Phú Đăng Hỏa, còn các loại Hỏa khác đều tương khắc. Nó thích gặp Thổ, nếu có Kim, Mộc sẽ hình thành một mệnh rất quý.
Vì sao lại gọi 2 tuổi trên là Thạch Lựu Mộc (gỗ cây lựu): vì Thân là tháng 7, Dậu là tháng 8. Khi cây cối bắt đầu lụi tàn chỉ có cây thạch lựu là còn kết quả, nên gọi Canh Thân, Tân Dậu là Thạch Lựu Mộc.
Cây thạch lựu vào mùa Thu kết trái, tính Mộc cứng rắn, với Thủy, Mộc qua lại có thể hòa hợp thành tốt. Duy chỉ có Đại Hải Thủy là không tốt. Theo các nhà Dịch học xưa, người mệnh này gặp mệnh Kim thì kỵ nhưng nếu Kim yếu sẽ không sao.
Nguyên nhân gọi Nhâm Tuất, Quý Hợi là Đại Hải Thủy (nước biển lớn) vì Thủy đều đã trưởng thành ở Tuất và Hợi (Quan Đới ở Tuất, Lâm Quan ở Hợi), do đó có thế lực hùng hậu. Hợi cũng là Thủy, tượng trưng sông nhỏ đổ ra biển lớn nên gọi là nước biển lớn.
Nước biển lớn mênh mông vô tận, có thể dung hòa được Đại Khê Thủy, Giản Hạ Thủy, Thiên Thượng Thủy, Trường Lưu Hải… Mệnh này thích Thiên Thượng Hỏa, vì mặt trời mọc ở biển Đông; thích Hải Trung Kim; thích Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc; thích Đại Trạch Thổ, Lộ Bàng Thổ.
Ghi chú: Đây chỉ là một trong những gợi ý về chọn tuổi kết hôn, còn nhiều cách khác, bạn đọc nên tham khảo, tìm hiểu nhiều nguồn để có sự lựa chọn tốt nhất.
Lichngaytot.com
6 sai lầm ai cũng mắc phải khi xem tuổi kết hôn
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến bạn đọc công cụ xem bói tử vi chuẩn xác theo ngày tháng năm sinh |
Thứ quan trong nhất trong cuộc đời của một người đàn ông đó là sự nghiệp, một khi đã có ý định tạo dựng sự nghiệp thì họ luôn tìm cách làm cho bằng được. Tuy nhiên có những lúc thành công lại không mỉm cười với họ và những thất bại trong sự nghiệp tiếp tục xảy ra. Đường chính phân loạn Trên bàn tay Đường Sinh mệnh, đường Trí tuệ, đường Tình cảm tán loạn không phải là một đường mà chia ra thành nhiều đường phân nhánh nhỏ, điều đó cho thấy tinh lực và thể lực của người này đều không đủ, sự nghiệp do đó cũng tiến triển không thuận lợi. Thái độ sống cơ bản là cực đoan, thay đổi những thói quen không tốt là điều vô cùng quan trọng. Đường Vận mệnh gặp đường Trở ngại mà phân tán Đây là tướng tay của người có sự nghiệp vô cùng phiền não, báo hiệu quan hệ giữa họ với mọi người trong công việc luôn có nhiều tranh chấp, hầu như dẫn đến gặp phiền phức không ngừng, dẫn đến lo lắng, tiều tụy. Hãy tiến hành thay đổi hoàn cảnh sống, hoặc có thể khai vận. Ngoài ra bố trí lại nhà ở hoặc tăng cường đi du lịch đều mang lại hiệu quả. Trên đường Công danh có đường vân đảo hoặc hình chữ thập Xem bói bàn tay mà thấy trên bàn tay đường vân đảo hay hình chữ thập xuất hiện trên đường Công danh thì bạn là người thường xuyên gặp phải những tranh chấp về tiền bạc mà gây trở ngại cho công việc. Ngoài ra, còn có thề phát sinh sự việc tổn hại danh tiếng của bản thân trong xã hội. Cách nhìn tiền bạc tản mạn, thái độ với cuộc sống không tốt, bạn cần phải thay đổi nhiều về quan điểm tiền bạc. Không phải trong một bầu trời cứ mãi trong xanh được, mà còn có những lúc mưa giông bão táp. Cần sự kiên cường để vượt qua những khó khăn trước mặt để tạo dựng lại sự nghiệp sao cho vững chắc hơn nữa. Bài viết trên là điển hình cho việc xem bói bàn tay để thấy được thất bại trong sự nghiệp sẽ ra sao. Hãy thử tiếp tục suy ngẫm và hiểu những vấn đề này nhé bởi không phải những điều viết trên là chính xác hoàn toàn.
Tác dụng chính của gương là phản chiếu, biến một sự vật thành hai. Nếu biết bài trí gương chuẩn phong thủy, sẽ tạo ra hiệu ứng tích cực, giúp nhân đôi thu nhập, hút thêm tiền bạc cũng như hạnh phúc gia đình. Ngược lại, nếu dùng sai cách sẽ rước họa vào thân.
1. Bày gương trong cửa hàng - Nhân đôi doanh thu và khách hàng
Theo quan điểm phong thủy, nếu bạn muốn tăng doanh số hay thu hút nhiều khách hàng hơn, hãy bày gương chiếu vào quầy tính tiền. Điều này mang ý nghĩa tăng gấp đôi mọi hoạt động giao dịch trong cửa hàng, doanh thu sẽ tăng dần lên.
![]() |
![]() |
![]() |
Bố cục của căn nhà toạ Giáp hướng Canh: Cửa chính của căn nhà nằm ở hướng Nam, phạm phải Nhị Hắc, Ngũ Hoàng sát. Đây là bố cục phá đinh tổn tài. Cố gắng chuyển nhà là cách tốt nhất. Nếu không có điều kiện thì có thể dùng cách sau để tạm thời hoá giải.

Tài vận: Bếp tại hướng Đông là vị trí của thần Tài, vị trí của chậu rửa đối diện với tài vận tương đối có lợi. Nên dùng nhiều chậu rửa để tăng cường tài vận gia nhân. Ngoài ra, hướng Đông Nam của tiểu thái cực và đại thái cực là cát tinh tài vị. Đặt những vật phong thuỷ khai vận chiêu tài như chậu cây cảnh, đồng tiền ngũ đế, rùa đầu rồng ở vị trí này có tác dụng tăng cường tài vận.
Sức khoẻ nhân đinh: Hướng Đông của bếp là vị trí của Đinh thần, thường xuyên nấu nướng tại vị trí này có thể tăng cường gia nhân sức khoẻ vận.
Con giáp nào khiến phải nữ tự đổ không cần tán? Những người này họ biết nắm bắt tâm tư tình cảm và suy nghĩ của phái đẹp, khiến các nàng cứ gọi là thi nhau ‘đổ đứ đừ’ mà… chẳng cần ‘cưa’. Các bạn đang thắc mắc những chàng trai đang nói đến là những con giáp gì? Để có câu trả lời chúng ta cùng tìm hiểu bài viết sau nhé!
Nội dung
Những anh chàng cầm tinh con giáp này thường hiểu biết, có tài ăn nói, đặc biệt là khả năng nắm bắt tâm lý người khác vô cùng nhạy bén. Người tuổi Tý nói chuyện như rót mật vào tai khiến các nàng phải mê mẩn.

Họ còn có khả năng tiếp cận và làm thân với các cô gái một cách tự nhiên. Bởi vậy họ không cần phải chủ động tán tỉnh, các nàng tự “xiêu lòng” lúc nào không hay.
Tính cách điềm tĩnh, thông minh, hài hước và ga lăng là điểm nổi bật và dễ nhận thấy ở những chàng trai tuổi Thân. Họ biết cách nâng niu, chiều chuộng phái yếu như công chúa.

Đôi khi hành động đơn giản như mở cửa trước khi vào quán ăn, kéo ghế ngồi cho bạn gái, xách đồ giúp khi thấy con gái bê nặng của người tuổi Thân cũng đủ để lại ấn tượng tốt trong mắt các nàng.
Người tuổi Dần thường tính cách mạnh mẽ, tư duy nhạy bén và biết cảm thông, chia sẻ với mọi người. Trong mắt phái nữ, những chàng trai tuổi Dần có vẻ đẹp kiểu “trong nóng ngoài lạnh”. Lớp ngoài trái tim ấm áp là vỏ bọc lạnh lùng, có vẻ như xa cách và bí ẩn khiến các nàng phải tò mò và muốn tìm hiểu.

Teen girl sẽ dễ tò mò và khát khao chinh phục nếu đã cảm nắng một anh chàng tuổi Dần. Chỉ cần nhìn thấy nụ cười tươi rói xuất hiện trên miệng chàng trai này, các bạn nữ sẽ ngất ngây vì sung sướng, coi đó như tín hiệu mà chàng đã bật đèn xanh cho mình.
Bản tính chân thành và kiên định của chàng trai tuổi Ngọ tạo cảm giác ấm áp và tin tưởng cho phái đẹp. Nó là nền tàng cho một mối quan hệ lâu dài và bền chặt. Đôi khi, sự chân thật ấy còn pha chút ngốc nghếch, dễ thương khiến các cô nàng cá tính hứng thú và muốn chinh phục.

Trong cuộc sống hiện nay, mẫu hình những anh chàng chân thật dường như đang rơi vào tình trạng “tuyệt chủng” nên thường được mến mộ hơn là những “chàng cáo”. Bởi họ mang lại cảm giác an tâm tuyệt đối cho nữ giới.