Lịch vạn niên dùng để chọn ngày tốt ngày xấu còn phải dựa vào một loạt "Thần sát" của thuật chiêm tinh cổ đại.Lịch vạn niên cũng khác với Lịch vạn sự của từng năm, nhất là các cuốn gọi là "Lịch vạn sự' lưu hành trên thị trường nước ta những năm gần đây.
Lịch vạn niên còn gọi là Hoàng lịch thông thư, Hiệp kỷ lịch, Hiệp kỷ biện phương thư, Vạn bảo toàn thư, Tuyển trạch nhật, Ngọc hạp, v.v...
Lịch vạn niên là loại lịch dùng cho nhiều năm; soạn theo chu kỳ: năm - tháng - ngày - giờ - hàng can, hàng chi; cứ 60 năm quay lại một vòng. Lịch vạn niên dựa vào thuyết âm dương ngũ hành sinh khắc chế hóa lẫn nhau, kết hợp với thập can, thập nhị chi, cửu cung, bát quái và nhiều cơ sở lý luận khác thuộc khoa học cổ đại phương Đông như thập nhị trực (Kiến Trừ thập nhị khách), Nhị thập bát túi 12 cung Hoàng đạo, Hắc đạo... để tính ngày giờ tốt xấu.
Cuốn Lịch vạn niên thông dụng ở nước ta dưới triều Nguyễn là cuốn Ngọc hạp thông thư. sở dĩ gọi là thông dụng, vì rải rác qua các tủ sách của các nhà Nho còn sót lại, chúng tôi tìm được các bản viết tay, quyển thì rách đầu, quyển thì mất đuôi, quyển bị xé giữa, và sưu tầm được ỏ các địa phương cách xa nhau (Bắc Thái, Hải Hưng, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên) nhưng nội dung vẫn thống nhất.
Có thể nói, Ngọc hạp thông thư là cuốn sách gối đầu giường của các cụ nhà Nho nước ta thời trước. Động đến việc gì lớn hay nhỏ trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, chài lưới, săn bắn, trong lễ nghỉ tế tự, giao dịch, trong mọi mặt sinh hoạt gia đình, họ hàng, làng xóm, các cụ đều mở lịch ra chọn ngày giờ lành, tránh ngày giờ dữ.
Ngoài ra, trước năm 1945, ở nước ta cũng lưu hành một số sách khác như Vạn bảo toàn thư, Đổng công tuyển trạch nhật, Chư gia tuyển trạch nhật (từ Trung Quốc đưa sang), hay cuốn Tăng bổ tuyển trạch thông thư quảng ngọc hạp ký (in ở Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn). Tất cả những cuốn trên đều cùng nội dung Lịch vạn niên, nhưng pha trộn thêm nhiều tà thuyết, trong đó có những tà thuyết đã bị bác bỏ từ thời Vua Khang Hy triều nhà Thanh.
Dưới triều Nguyễn (1802 - 1945) có Khâm định vạn niên thư (triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu trị, Tự Đức) và Đại Nam Hiệp kỷ lịch (từ triều Thành Thái (1900) trở về sau). Đó là những cuốn lịch có tính pháp định, do toà Khâm thiên giám soạn, đệ trình nhà vua và do nhà vua ban cho thần dân hàng năm. Ngọc hạp thông thư, tức cuốn Lịch vạn niên chúng tôi đề cập ở đây cũng do Khâm thiên giảm ban hành, cũng có chung cơ sở lý luận thuộc thiên văn học cổ đại nhưng không phải là Khâm định vạn niên thư
-Lịch vạn niên dùng để chọn ngày tốt ngày xấu còn phải dựa vào một loạt "Thần sát" của thuật chiêm tinh cổ đại.
-Lịch vạn niên cũng khác với Lịch vạn sự của từng năm, nhất là các cuốn gọi là "Lịch vạn sự' lưu hành trên thị trường nước ta những năm gần đây.
Giọng đàn ông, Miệng có râu, Dáng đi uốn mông, lắc mình, Dáng đi nhún nhảy, Lưỡng quyền (gò má) nổi quá cao Tướng xấu của người phụ nữ phải kể đến 8 điểm kỵ sau: Giọng đàn ông Người phạm vào điều cấm kỵ này thường xung khắc với chồng và con. Cuộc sốn
Bệnh muỗi bay là bệnh của mắt, tuy bên ngoài không thấy nhãn cầu có dấu vết gì nhưng sáng ra thấy có nhiều điểm bay tán loạn trong mắt, giống như các con muỗi bay. Mắt có hiện tượng như thế gọi là ảo thị. Có một cô gái làm việc ở một cơ quan hàng khô
Bệnh muỗi bay là bệnh của mắt, tuy bên ngoài không thấy nhãn cầu có dấu vết gì nhưng sáng ra thấy có nhiều điểm bay tán loạn trong mắt, giống như các con muỗi bay. Mắt có hiện tượng như thế gọi là ảo thị.
Có một cô gái làm việc ở một cơ quan hàng không kể cho mọi người nghe về giấc mơ của cô: Một hôm đang nằm nghỉ, cô mơ thấy mình bay trên không, có lúc bay rất tự do. Bay một lúc cô lại trở về máy bay và phát hiện trên vách trong máy bay có rất nhiều côn trùng nhỏ, đen như hắc ín bám, trên chén trà, ngay cả người cũng đầy loại trùng này. Chẳng có cách nào đuổi được chúng, các con trùng bay đầy gian phòng khiến cô không trông thấy gì, cô không chịu được, kêu to và tỉnh dậy.
Mấy ngày sau cô mới biết mình bị mắc bệnh đau mắt hoa có muỗi bay, đành nghỉ công tác.
Bệnh này do cảm ứng tâm lý mà có, các con trùng bay trong ảo giác, bất cứ mở mắt hay nhắm mắt đều có cảm giác như thế.
Khi thấy hiện tượng như thế phải đi bệnh viện kiểm tra ngay.
Nếu trẻ em mơ thấy như thế thì phải đi khám, xác định xem loại bệnh gì vì bệnh hoa mắt như có muỗi bay rất ít gặp ở trẻ em.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen. Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Tôi nghe thế nầy : một khi Phật ở, trong một Tinh Xá, vườn Cấp-cô- độc, cây của Kỳ-Ðà, cùng các Tăng-già, có trên hai vạn, thêm tám nghìn người , cùng chư Bồ-Tát. Bấy giờ Thế-Tôn, cùng với Ðại chúng, nhân buổi nhàn du đi về phía nam, thấy đống xương khô chất cao như núi Ðức Phật Thế Tôn liền sụp lạy ngay đống xương ấy. Tôi bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, Ngài ở trên ngôi chí Tôn, chí Qúy, Thầy cả ba cõi Cha lành bốn loài thiên thựơng nhân gian thảy đều tôn kính, sao Ngài lại lễ đống xương kia.
Nầy A-Nan ơi! Ngươi tuy xuất gia theo ta tu học, trong bấy nhiêu lâu, những sự thấy nghe đã rộng rãi, đống xương khô ấy hoặc là ông bà, hay là cha mẹ, thân trứơc của ta, ngàn muôn ức kiếp, đời đã cách xa, bởi thế nay ta chí thành kính lễ. Ngươi đem xương nầy chia làm hai phần, một là đàn ông, hai là đàn bà, phân biệt cho ta.
Bạch Ðức Thế Tôn, con xem ở đời phàm là con trai mang đai hia mão, ai cũng nhận ra, đấy là nam giới, những người con gái hương hoa phấn sáp, kiềng xuyến nhẫn hoa, ai cũng nhận ra, đó là nữ giới. Nay người đã chết, xương trắng một mầu, chúng con biết đâu mà phân biệt đựơc.
ÐÂY LÀ LỜI PHẬT
Này A-Nan con, về bên nam giới trong lúc bình sinh, thừơng lui tới những chốn chùa chiền, nhờ có nhân duyên nghe Kinh lễ Phật, kính mến Tăng-già, nợ trần đã qua, hồn về cõi Phật, bao nhiêu xương trắng, nhắc thấy nặng hơn là xương nam giới còn như nữ giới trong lúc bình sinh, nhiều lần sinh nở, nuôi nấng con thơ, tổn hao khí huyết, mỗi một kỳ sinh, máu đặc trong mình chảy ra sáu đấu, mỗi người con bú, tám thùng bốn đấu, sửa ở trong mình giảm bớt tinh anh, cho nên xương nhẹ và có sắc đen.
Tôi nghe Phật nói thương xót vô cùng, như dao cắt ruột, nứơc mắt chứa chan, hai hàng châu lệ, mà bạch Phật rằng:
Lạy Ðức Thế Tôn, công ơn cha mẹ như non như bể, thăm thẳm nghìn trùng, lấy gì báo đáp, cúi xin Ðức Phật dủ lòng thương xót, dạy bảo chúng con.
Nầy A-Nan con, Về ân đức mẹ, trong vòng mười tháng đi lại nặng nề, cưu mang nhọc mệt, khổ không xiết :
Khi vừa một tháng, ở trong thai mẹ, khác gì hạt sương dính trên ngọn cỏ, sớm còn tụ đọng, trưa đã tan, khó lòng giử được.
Khi được hai tháng, ở trong thai mẹ, hình như sữa đặc, đã chắc gì đâu.
Khi được ba tháng, ở trong thai mẹ, ví như cục máu, đông đặc đỏ ngầu, vô tri vô giác.
Khi được bốn tháng, ở trong thai mẹ, mới dạng hình người.
Khi được năm tháng, ở trong thai mẹ,mới đủ năm hình, chân tay đầu tóc.
Khi được sáu tháng, ở trong thai mẹ, sáu căn mới đủ, mắt tay mũi lưỡi thân hình và ý.
Khi được bảy tháng, ở trong thai mẹ, mới sinh đầy đủ, ba trăm sáu mươi những cái đốt xương, cùng là tám vạn, bốn nghìn chân lông.
Khi được tám tháng, ở trong thai mẹ, phủ tạng mới sinh, ý chí mới đủ, chín khiếu mới thông.
Khi được chín tháng, ở trong thai mẹ, mới đủ hình người ngồi trong bụng mẹ, khát uống nguyên khí, không ăn hoa quả, cùng là ngũ cốc, sinh tạng rủ xuống, thực tạng hướng lên, có một dãy núi gồm có ba quả; một là Tu Di hai là núi Nghiệp, ba là núi máu, núi nầy đồng thời hoá ra dòng máu, rót vào trong miệng.
Ở trong thai mẹ, trong vòng mười tháng, trăm phần toàn vẹn, mới đến ngày sinh, nếu là con hiếu, chắp tay thu hình, thuận lối mà ra, không đau lòng mẹ; nếu là con bạc, dẫy giụa bải bơi khiến lòng mẹ, buốt chói từng hồi, như đâm như xỉa, như cấu như cào, như nghìn mũi dao, đâm vào gan ruột, đau đớn vô cùng, nói sao cho siết, sinh được thân nầy, mừng thay vui thay, yêu thay mến thay.
Phật bảo A-Nan : công ơn cha mẹ, gồm có mười điều, phàm kẻ làm con, phải lo báo hiếu .
Những gì là mười điều?
Nhớ ơn mẹ ta, chín tháng mười ngày, cưu mang nặng nhọc.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sinh lúc nở, đau đớn vô cùng.
Nhớ ơn mẹ ta, khi sanh lúc nở, quên cả âu lo.
Nhớ lại công ơn, mẹ ăn miếng đắng, lại nhả miếng ngon, dành dụm cho con.
Nhớ lại công ơn, chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo xê con.
Nhớ ơn mẹ ta, ba năm bú mớm, nuôi nấng thuốc thang, trong khi sài đẹn.
Nhớ ơn mẹ ta, giặt diệm hong phơi áo quần dơ dáy, ô uế tanh hôi mẹ đành cam chịu .
Nhớ ơn mẹ ta, khi đi đâu xa, vì thương nhớ con, trong lòng cầy cậy, một phút chẳng ngơi .
Nhớ công ơn mẹ, vì sanh nuôi con, mà mẹ cam lòng tạo bao nhiêu ác nghiệp.
Nhớ công ơn mẹ, lòng rất thương con, trọn đời yêu dấu, không phút nào ngơi.
ÐỆ NHẤT ÂN: CHÍN THÁNG MƯỜI NGÀY CƯU MANG NẶNG NHỌC
Bao kiếp, duyên cùng nợ;
Ngày nay, mới vào thai
Ðầy tháng, sanh ngũ tạng;
Bảy bảy, sáu tinh khai
Thân trọng, như non Thái
Ðộng tĩnh, sợ phong tai
Áo the, đành xốc-xếch,
Gương lược, biếng trang đài.
ÐỆ NHỊ ÂN: KHI GẦN SANH NỞ
Khi gần ngày sanh nở
Nặng nhọc, khổ vô cùng,
Cưu mang, trong mười tháng
Sanh nở, sắp đến ngày
Ðứng ngồi coi nặng nhọc;
Dáng vẻ, tựa ngô ngây,
Sợ hãi lo, cùng lắng;
Tử sanh giờ phút nầy!
ÐỆ TAM ÂN: SANH NỞ
Mẹ ta, khi sanh nở,
Thân thể đều mở toang!
Tâm hồn như mê mẩn,
Máu me chan hòa đầy,
Chờ nghe, thấy con khóc;
Lòng mẹ mừng rỡ thay!
Ðương mừng lại lo đến
Rầu rĩ ruột gan nầy.
Cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
ÐỆ TỨ ÂN: ĂN ÐẮNG NHẢ NGỌT
Mẹ ta lòng thành thực,
Thương con chẳng chút ngơi
Nhả ngọt nào có tiếc!
Ăn đắng nói cùng ai?
Yêu dấu như vàng ngọc.
Nâng niu tay chẳng rời
Những mong con ấm no;
Mẹ đói rách cũng vui .
ÐỆ NGŨ ÂN: XÊ CON TỰ THẤP
Tự mình nằm chỗ ướt,
Chỗ ráo để xê con,
Hai vú phòng đói khát;
Hai tay ủ gió sương.
Thâu đêm nằm chẳng ngủ;
Nâng niu tựa ngọc vàng
Những mong con vui vẻ;
Lòng mẹ mới được yên.
ÐỆ LỤC ÂN: BÚ MỚM NUÔI NẤNG
Ðức mẹ dày như đất;
Công cha thẳm tựa trời
Chở che coi bình đẳng;
Cha mẹ cũng thế thôi!
Chẳng quản, câm mù, điếc!
Chẳng hiềm, quắt tay chân!
Bởi vì con ruột thịt,
Trọn đời dạ chẳng khuây.
ÐỆ BÁT ÂN: ÐI XA LÒNG MẸ THƯƠNG NHỚ
Từ biệt, lòng khôn nhẫn;
Sanh ly dạ đáng thương;
Con đi đường xa cách
Mẹ ở chốn tha hương,
Ngày đêm thường tưởng nhớ;
Sớm tối vẩn vấn vương
Như vượn thương con đỏ
Khúc khúc đoạn can trường?
ÐỆ CỬU ÂN: VÌ SANH CON MÀ CAM LÒNG TẠO BAO ÁC NGHIỆP
Mẹ trải qua bao nhiêu gian khổ,
Công lao tựa vực trời
Bồng bế cùng nuôi nấng;
Mong sao con ăn chơi
Nhường cơm cùng xẻ áo;
Mẹ đói rách dũng vui!
Khôn lớn tìm đôi lứa
Gây dựng cho nên người
ÐỆ THẬP ÂN: MẸ TRỌN ÐỜI THƯƠNG YÊU CON
Công cha cùng đức mẹ
Cao sâu tựa vưc Trời
Mẹ già, hơn trăm tuổi,
Vẫn thương con tám mươi!
Bao giờ ân oán hết?
Tắt nghỉ cũng chẳng thôi !…
Phật bảo A-Nan: Ta xem chúng sanh, dẫu làm được người lòng còn ngu muội chẳng nghĩ mẹ cha, công đức kể ra, như non như bể, chẳng cung chẳng kính, chẳng hiếu chẳng từ, mẹ mang thai con, trong vòng mười tháng, ngồi đứng không yên, như mang gánh nặng, ăn uống chẳng ngon, như người mang bệnh, ngày tháng thoi đưa, dến khi sanh nở, chịu khổ mọi đường, phút giây hay dở, kinh sợ vô cùng, như giết trâu dê, máu me lai láng, còn nhiều khổ nữa, mới được thân nầy, ăn đắng nuốt cay, nhả bùi nhả ngọt, nâng niu dưỡng dục, giặc giũ dáy dơ, không nề gian khổ, bức bối nồng nàn, rét mướt cơ hàn, lầm than tân khổ, mẹ nằm chỗ ướt, ráo để xê con, ba năm bú mớm, bồng bế nâng niu, dạy bảo đủ điều, lễ nghi phép tắc, cho ăn đi học, tìm đủ mọi nghề, đưa đón đi về, cần lao chăm chú, chẳng kể gì công.
Trái nắng dở Trời tuần trăng cuối gió, bệnh nọ chứng kia, bông hoa sài đẹn, thang thuốc đâu đâu, một mình lo lắng, chạy ngược chạy xuôi năm canh vò võ, bệnh con có khỏi lòng mẹ mới yên, mong con lớn lên, con thảo con hiền, để mà trông cậy.
Không ngờ ngày nay, hóa con bất hiếu, mẹ già cha yếu, con chẳng đỡ đần, cãi vã song thân, nói năng cắn cẩu, giương đôi mắt chẫu, khinh rẻ mẹ cha, chú bác ông bà, cô dì chẳng nể, anh em cũng kệ, đánh lộn xẩy ra, ô nhục nước nhà, bất trung bất nghĩa, bất hiếu bất lương, phép nước coi thường, mẹ cha cũng kệ, xóm giềng chẳng nể, chửi bới nhau luôn, sớm tối ra vào, chẳng thưa chẳng gởi nói năng càn rỡ, tự ý làm bừa, cha mẹ cũng thừa, thầy trên cũng mặc!
Bé thì ai chấp, người những nâng niu, dần dần khôn lớn, gai ngạnh mọi điều, chẳng hòa chẳng thuận, thường hay sân si bỏ cả bạn lành, giao du bạn ác, tập thói xa hoa, chơi khắp gần xa, thất thường điên đảo, bị kẻ dổ dành, mất cả thân danh, bỏ làng trốn mất, trái ý mẹ cha, ly biệt quê nhà, chẳng nhìn quê quán, hoặc vì buôn bán, hoặc bởi tòng quân, tiêm nhiễm dần dần, trở nên lưu luyến, vợ nọ con kia, chẳng thiết đi về, quê hương bổn quán, ở đất nước người lại hay rong chơi bị người lưà gạt, tai vạ liên miên, pháp luật gia hình, tù loa cấm cố, cực khổ mọi điều, chẳng may yếu đau, chứng kia tật nọ, ở chốn tha hương, ai kẻ thích thân, ai người thang thuốc, mẹ cha cách biệt, thân thích biết đâu, cam chịu ưu sầu, quê người đất khách; khốn khổ gầy còm, không người trông nom, bị khinh rẻ, lang thang đường ngõ, vì thế chết đi; không người mai táng, chương phềnh thối nát, giãi bừa, chó cầy nhai xé!….
Mẹ cha thân thuộc, khi được tin buồn, luống những đau thương, ruột như dao cắt, hai hàng nước mắt, lã chã chứa chan, hoặc vì quá thương, kết thành bệnh khí, hoặc là đến chết, làm quỷ ôm thây, chẳng để cho ai khư khư giữ mãi. Hoặc là vì con, chẳng chăm học tập, chỉ mải rong chơi nay đây mai đó, cùng bạn vô loài làm điều vô ích, giao du trộm cắp, chẳng sợ lệ làng, chè rượu nghênh ngang, đánh cờ đánh bạc, gian tham tội ác, lụy đến tôn thân, nay Sở mai Tần, lên đồn xuống phủ, mẹ cha ủ rũ, khốn khổ vì con.
Nào con có biết, cha mẹ khổ đau, trăm não nghìn sầu, mùa Thu mùa Ðông, rét run bức bối chẳng nhìn sớm tối; ấp lạnh quạt nồng, chẳng viếng chẳng thăm, chẳng hầu chẳng hạ, mẹ cha già cả, hình vóc gầy còm, hổ mặt người con, dầy vò mắng nhiếc, mẹ cha hoặc góa, trơ trọi một mình, luống những buồn tanh, như người ngủ trọ, chiếc gối một phòng, năm canh vò-võ, mùa đông sương gió, rét mướt cơ hàn, trai gái các con, nào ai hỏi đến, đêm ngày thương khóc, tự thán tự thương !
Khi đem thức ăn, dâng lên cha mẹ, thì lại giữ kẽ, rằng ngượng e, sợ kẻ cười chê; ví đem quà bánh, cho vợ cho con, mặt dạn mày dầy, không hề xấu hổ, vợ con dặn bảo, phải đúng như lời cha mẹ hết hơi không hề hối cải .
Ðây là con gái khi chưa gả chồng, hãy còn ở chung, tỏ ra hiếu thảo; khi đã gã bán, về ở nhà người một ngày một lười thiết gì cha mẹ, những ngày giỗ tết, có đảo về qua, ví dù mẹ cha, có gì sơ ý, liền sinh giận dữ, tỏ vẻ oán hờn, chồng chửi nhơn nhơn, đành cam lòng chịu, khác họ khác làng, tình nghĩa keo sơn, hóa ra thâm trọng, mẹ cha máu mủ, thì lại sơ tình. Hoặc đi theo chồng, quê người đất khách, quận nọ tỉnh kia, cha mẹ xa lià. Làng không tưởng nhớ, chẳng viếng chẳng thăm, thư tín cũng không, tuyệt không tin tức, mẹ cha thương nhớ, rầu rĩ ruột gan, luống những bàng hoàng, sớm chiều mong mỏi công đức cha mẹ, vô lượng vô biên, con chẳng hiếu hiền, ở đời cũng lắm.
Khi ấy Ðại chúng, nghe Phật nói ra, công đức cha mẹ, cao tầy non Thái đều cùng đứng dậy, hoặc tự gieo mình, đập đầu lăn khóc, máu me trào trạt, lai láng cả nhà, chết ngất cả ra, hồi lâu mới tỉnh, mà nói lời nầy, khổ thay khổ thay ! đau lòng đứt ruột, lũ con ngày nay, tội ác ngập đầu, xưa có biết đâu, mờ như đêm tối ngày nay biết hối thì sự đã rồi đau đớn lòng tôi trót đà bội bạc, cúi xin chư Phật, soi xét kẻ phàm, phóng Ngọc hào quang, ra tay cứu vớt, làm sao báo được, ân đức mẹ cha .
Phật liền nói ra, đủ đầy tám giọng, bảo Ðại chúng rằng :
Ví có kẻ nào, hai vai kiệu cõng, cha mẹ đi chơi suốt cả mọi nơi trên rừng dưới biển, hai vai nặng trễ, mòn cả đến xương, máu chảy cùng đường, không hề ân hận, cũng chưa báo được công đức mẹ cha, kể trong muôn một.
Ví lại có người. Gặp khi đói kém, cắt hết thịt mình, cung nuôi cha mẹ, khỏi lúc nguy nàn, riêng mình cam chịu, thịt nát xương tan, trăm nghìn muôn kiếp, để báo thâm ân, chẳng được một phần, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, tự tay cầm dao, khoét đôi mắt mình, luyện làm thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, đều tự tay mình, cầm dao khoét ruột, móc lấy tim gan, luyện thành thang thuốc, chữa bịnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì tội mẹ cha, trăm nghìn vòng dao, băm vằm thân thể, thịt nát xương tan, như thế cũng là, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì báo ơn mẹ, lấy mình đốt lên, làm cây đèn thịt, cúng dàng chư Phật, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì bệnh mẹ cha, đập xương lấy tủy, để làm thang thuốc, chữa bệnh mẹ cha, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Ví lại có người trải trăm nghìn kiếp, vì cứu mẹ cha, trải trăm nghìn kiếp, nuốt viên sắt nóng, cháy sém cả mình, như thế cũng là, chưa trả được ân, kể trong muôn một.
Bấy giờ Ðại chúng, nghe Phật nói rồi trong dạ bồi hồi ruột đau như cắt, hai hành nước mắt, tầm tả như mưa, mà bạch Phật rằng : con muốn đền ơn, công đức mẹ cha, cúi xin Phật đà, rủ lòng chỉ bảo ?
Ðức Phật liền bảo : Cặn kẽ mọi lời này chúng sinh ơi muốn đền ân mẹ, nhất là một lẽ, nên chép Kinh nầy, kính biếu gần xa, cho nhiều người tụng. Hai vì cha mẹ, đọc tụng Kinh này, chuyên cần chớ đoạn. Ba vì cha mẹ, sám hối làm chay. Bốn vì cha mẹ, cúng dường Tam Bảo, tùy sở dùng. Năm vì cha mẹ, trong sáu ngày Trai phải nên nhớ giữ. Sáu vì cha mẹ, thường hay bố thí.
Làm được như thế, thực là con hiếu, cứu được cha mẹ, siêu thăng Cưc Lạc, phúc đẳng Hà sa.
Phật bảo A-Nan, ở trên thế gian, những người bất hiếu, sau hết duyên trần, nguyên cái xác thân, chôn vùi dưới đất : còn phần Linh giác, là cái chân thân, phải vào Ðiạ Ngục, Chính ngục A-Tỳ, vuông rộng tứ vi tám ngàn cây số, bốn mặt có tường sắt, tường đồng, lửa cháy tứ tung, toàn dây thép điện, thường có lửa bén, cháy đỏ hồng hồng, bốc cháy tứ tung, thấy mà kinh sợ; hơn như thế nữa, sấm chớp đùng đùng, chó sắt rắn đồng, phun ra khói lửa, đốt cháy tội nhân.
Lại còn nước đồng đun sôi sùng sục, rót ngay vào miệng những kẻ tội nhân, vì tội bất hiếu, cãi giả mẹ cha, cam chịu cực hình, ở trong ngục ấy, gươm dao sào gậy, đâm chém suốt ngày, như hạt mưa bay, trên không rơi xuống, trải nghìn muôn kiếp, không phút nào nguôi hết hạn ấy rồi lại vào ngục khác; Ðầu đội chậu máu, xe sắt nghiến mình, mình mẩy chân tay, dập dừ tan nát, một ngày phải chết, tới nghìn vạn lần, khổ sở gian truân, vì chứng bất hiếu. Phật lại dạy rằng : ví có Thiện nam hay là Tín nữ, thật là hiếu tử, trả nghĩa mẹ cha, in Kinh nầy ra, biếu cho người tụng, in được một quyển, được một công đức, in được mười quyển, được mười công đức, in được trăm quyển, được trăm đức Phật, in được muôn quyển, được muôn đức Phật, phù hộ độ trì, lại tiếp hồn đi về phương Cực Lạc, đây là lời Phật, chớ có coi thường, Ðiạ ngục vấn vương, khó lòng thoát khỏi !
Bâý giờ A-Nan cùng chư Ðại chúng, Trời Rồng, Thần, Quỉ, Dạ Xoa, La Sát, người cùng phi nhân, được nghe Phật nói đều phát nguyện rằng :
Chúng con tận tâm, chí thành chí kính, dù trăm nghìn kiếp, thịt nát xương tan, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy. Thà rằng lấy kìm, cặp lưỡi rút ra, dài trăm do tuần, cho trâu sắt cày, máu chảy chan hòa, thành sông thành suối con thề chẳng trái lời Phật dạy răn.
Chúng con thề rằng: Thà lấy trăm nghìn vòng dao giáo mác, đâm chém thân này, nhỏ như vi trần, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Chúng con thề rằng: Thà lấy lưới sắt, quất chặt vào thân trăm nghìn muôn kiếp, chẳng tháo cho ra, cực khổ vô cùng, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạy.
Chúng con thề rằng: Thà đâm thà chém, thà mổ thà xả, thà xay thà giã, nhỏ như vi trần, đem cái xác thân nầy, làm nghìn muôn thứ, nào da nào thịt, nào gân nào xương, rơi rác ngoài đường, trong nhà, ngoài ngỏ; trải trăm nghìn kiếp, chịu khổ như thế, cũng chẳng dám quên lời chư Phật dạỵ
Khi ấy A-Nan, liền bạch Phật rằng : Lạy Ðức Thế Tôn, đây là kinh gì, lũ chúng con đây đều muốn tụng trì, có được hay chăng. Ðức Phật dạy rằng, chúng con nên biết :
Kinh nầy là Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân chi Kinh, tất cả chúng sinh thảy đều nên tụng. Khi ấy Ðại chúng nghe Phật nói rồi tin, kính phụng lành, lễ tạ mà lui.
Chấm dứt Kinh Phật Nói Kinh Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân
Kính lạy Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân kinh.
Kính lạy Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính lạy chư Phật đã đền ân cha mẹ.
Kính lạy Ðức Ma Gia Ðại Thánh Mẫu.
Kính lạy Ngài Quang Mục Ðại Thánh Nữ.
Kính lạy Ngài Diệu Thiện cắt tay cứu Phụ Vương.
Kính lạy Ngài Mục Kiền Liên vào ngục cứu mẫu thân.
Đây là điển cố thứ Sáu trong quẻ Quan Âm, mang tên Nhân Quý Ngộ Chủ (còn gọi là quẻ Nhân Quý Gặp Chủ). Quẻ Quan Âm Nhân Quý Ngộ Chủ có bắt nguồn như sau:
Tiết Nhân Quý (614 – 683) là hậu duệ của vị tướng tài Tiết An Đô thời kỳ Nam Bắc Triều, là người của gia tộc họ Tiết ở Hà Đông, nhưng đến đời Nhân Quý thì gia tộc đã sa sút. Cha của Nhân Quý mất sớm, tuy từ nhỏ gia cảnh nghèo khó, nhưng Nhân Quý rất chịu khó tập luyện văn võ, bẩm sinh sức khỏe hơn người, sức ăn cũng lớn.
Tiết Nhân Quý sinh ra trong thời loạn, chăm chỉ làm nông để sinh sống, chưa có gì nổi tiếng. Đến năm ba mươi tuổi, Nhân Quý muốn di dời phần mộ tổ tiên, để mong đem đến vận tốt, nhưng vợ của Nhân Quý nói rằng: “Người có tài năng cần phải biết nắm bắt thời cơ. Nay hoàng đế ngự giá thân chinh đến Liêu Đông, chính là lúc cần có tướng mạnh, chàng có tài năng lớn, sao chàng không tòng quân để lập công danh? Đợi đến khi chàng phú quý trở về quê hương, thì cải táng cha mẹ cũng chưa muộn!” Tiết Nhân Quý nghe có lý, bèn từ biệt vợ, xin gia nhập quân đội, bắt đầu chặng đường suốt bốn mươi năm tung hoành nơi sa trường đầy kỳ tích.
Năm Trinh Quán thứ 19 (năm 643), Đường Thái Tông xuất phát từ Lạc Dương, đem quân đánh Cao Cú Lệ . Tháng ba năm ấy, ở chiến trường An Địa thuộc Liêu Đông, tướng lĩnh Lưu Quân Cùng của quân đội nhà Đường bị quân địch bao vây, không có cách nào thoát thân, cũng không ai có thể giải cứu. Trong thời khắc nguy nan đó, Tiết Nhân Quý đơn thương độc mã, dũng cảm đương đầu với gian nguy, lấy đầu tướng lĩnh của Cao Cú Lệ, lại đem treo lên mình ngựa, quân địch nhìn thấy khiếp sợ, liền thoái lui, Lưu Quân Cùng được giải cứu. Sau việc đó, Tiết Nhân Quý trở nên nổi danh trong quân đội.
Sau đó không lâu, trong trận chiến An Thị (nay là thôn Thành Tử, xã Nam Doanh, huyện Hải Thành, tỉnh Liêu Ninh), Tiết Nhân Quý đã phát huy được tài năng võ nghệ của mình. Qua trận chiến này, ông đã trở thành vị tướng mạnh nhất của nhà Đường lúc đó. Tháng tư năm Trinh Quán thứ 19, đội quân tiên phong của nhà Đường tiến đánh Cao Cú Lệ, liên tiếp đánh bại quân đội của Cao Cú Lệ. Tháng sáu, quân đội nhà Đường tiến đến An Thị, quan Mạc ly chi sai đại tướng Cao Diên Thọ và Cao Huệ Chân thống lĩnh hai mươi lăm vạn đại quân đóng đòn trên núi, chống lại quân đội nhà Đường. Sau khi Đường Thái Tông thị sát địa hình, lệnh cho các tướng chia nhau tiến đánh.
Tiết Nhân Quý thân mang áo bào trắng khác hẳn với các binh sĩ khác, tay cầm phương thiên họa kích, lưng đeo hai cây cung, một mình một ngựa xung trận, thâm nhập vào hàng ngũ hai mươi lăm vạn quân trong trận địa của địch, làm rối loạn trận thế của kẻ địch, khiến cho quân địch không có cách nào ứng chiến. Cao Diên Thọ, Cao Huệ Chân nhiều lần muốn chấn chỉnh lại hàng ngũ tố chức để phản kích, nhưng đều bị Tiết Nhân Quý tấn công khiến cho hàng ngũ rối loạn. Quân đội nhà Đường ồ ạt tiến lên, quân Cao Cú Lệ đại bại. Lúc này, Lý Thế Dân ở xa quan sát trận đánh, trông thấy vị tướng trẻ mặc áo bào trắng chiến đấu vô cùng dũng mãnh giữa biển người, cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Sau trận chiến, Lý Thế Dân lập tức triệu kiến Tiết Nhân Quý, ban cho hai con ngựa, bốn mươi tấm lụa, cho mười tù binh làm người hầu, lại thăng chức làm tướng quân du kích, Quả Nghị Đô úy của phủ Vân Tuyền.
Sau đó quân đội nhà Đường đánh mãi mà không thắng, lại gặp phải mùa đông mưa tuyết lớn, lương thực và cỏ không đủ, bèn lui quân. Giữa đường, Lý Thế Dân nói với Tiết Nhân Quý rằng: “Các tướng lĩnh của trẫm đều đã già rồi, nay gặp chiến sự đã không thể đảm nhận nối trọng trách này nữa, trẫm muốn lựa chọn một vị tướng quân trẻ tuổi có tài, không ai có thể hơn được khanh. Chuyến chinh phạt lần này, cho dù có thu phục được Liêu Đông trẫm cũng không vui, mà điều vui nhất chính là có được nhân tài như khanh!”
Câu nói “Trẫm không vui vì có được Liêu Đông, mà vui vì có được khanh” đã trở thành một câu nói nối tiếng; dùng hàng trăm vạn dặm lãnh thổ của vùng đất Liêu Đông rộng lớn để đánh giá về Tiết Nhân Quý, đủ để thấy được tài năng của ông. Sau khi Đường Thái Tông qua đời, con trai là Đường Cao Tông tiếp tục trọng dụng Tiết Nhân Quý, khiến ông trờ thành vị tướng nổi tiếng một thời.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Hương Giang (##)
Nâng tầm sự nghiệp bằng thuật phong thuỷ là một chủ đề rất phổ biến trong ngành phong thuỷ. Hơn nữa nó còn giúp tạo nên sự giàu có, thăng cao chức vụ và giữa những điều đó thì mọi người đều quan tâm sử dụng phong thuỷ để có một cuộc sống tốt hơn. Điều này cũng dễ hiểu bởi có một công việc thành công cho phép chúng ta đưa ra những quyết định tốt hơn cho gia đình và chính bản thân chúng ta.
Sử dụng thuật phong thuỷ cho nghề nghiệp của bạn bắt đầu từ khu vực làm việc phía bắc của bạn.
Vào lúc này, điều đó không mang ý nghĩa cần thiết là bản đơn giản phải kiếm nhiều tiền hơn bởi vì tiền không thể giải quyết được tất cả những khó khăn trong công việc. Dĩ nhiên nó cũng không gây ra thương tổn gì. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều người ở ngoài kia có một mức lương khá tốt nhưng lại không hạnh phúc với công việc tương ứng của mình.
Một công việc thành công giúp tạo ra sự giàu có, thăng chức và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Khi bạn muốn nâng cao lĩnh vực mà bạn muốn phát triển, nó có thể mở rộng hàng loạt những tiềm năng. Ví dụ, bằng việc nâng cao lĩnh vực nghề nghiệp của bạn, nghề của bạn có thể đột nhiên trở nên tốt hơn hoặc một cái gì mới và khá hơn sẽ đến với bạn không hề biết trước, chẳng hạn như cơ hội kinh doanh.
Nhưng vẫn có cái giá của những sự thay đổi, bạn có nhiều sự thay đổi trong đời và vì thế bạn có nhiều sự lựa chọn hơn. Và đó là cái mà bạn luôn mong muốn có trong đời: nhiều cơ hội và lựa chọn hơn để tạo nên những hạnh phúc tuyệt vời cho gia đình và bản thân bạn.
Đôi khi những thay đổi nhỏ thôi cũng mở ra cho bạn nhiều lựa chọn và những cơ hội mới tốt đẹp hơn.
Có hai khu vực chính cần làm nổi bật nếu như bạn muốn phát triển nghề nghiệp, đó là nhà ở và nơi làm việc. Dưới đây là một số ý tưởng cơ bản cho hai khu vực trên:
1. Nhà ở: 6 bước chính
- Hãy nhìn về hướng Bắc: Đảm bảo rằng khu vực phía Bắc nhà của bạn được sắp xếp tốt nhất. Nếu như phía Bắc nhà bạn không có hay có một nhà vệ sinh ở đây thì hãy xây dựng một phòng khách hay một phòng làm việc để thay thế.
- Nếu như phòng ngủ của bạn ở hướng Bắc: Có thể phát triển cuộc đời bạn bằng việc trang trí phòng bằng màu xanh hay đen, một bức tranh có liên quan đến nước (tuy nhiên không nên quá to) và những đồ vật kim loại (tốt nhất là đồ vật có màu ánh vàng).
Phòng ngủ ở hướng Bắc nên sử dụng màu xanh, đen.
- Phía bắc đối diện với nhà ở: Hãy tạo một lối vào nhà mà thu hút và hấp dẫn nhất có thể để chào đón những cơ hội mới. Hãy tạo nó gọn gàng và dễ dàng để đi vào bằng việc dời đi những vật cản, những vật bao vây nó, những hàng cây khô, sử dụng những tấm thảm có ghi chữ chào đón,...
Bằng cách này, đừng mua những tấm thảm chào đón có ghi tên của bạn trên đó bởi vì bạn sẽ dẫm chân lên cái tên tốt đẹp của chính mình. Hãy đặt hình ảnh của một con rùa hay một con cá ở đây. Đảm bảo rằng không có một hướng nhìn thẳng nào từ đầu nhà đến cuối nhà hoặc là bạn sẽ mất đi những cơ hội (và mất tiền).
Lối vào nhà cần được thông thoáng, không có vật cản hoặc những hàng cây khô bao quanh.
- Hãy nhìn về hướng Nam: Hãy trưng bày những cái lông công ở phía nam của ngôi nhà và giữ cho khu vực luôn đầy đủ ánh sáng. Khu vực phía Nam tiêu biểu để nhận ra ngôi nhà. Một nhóm chín cây nến sẽ thực sự tuyệt vời để trưng bày ở đây. Hãy cân nhắc những màu sắc để sơn phòng phía Nam trong những ngôi nhà như đỏ, da cam hay màu đỏ sẫm.
- Chào đón những cơ hội nghề nghiệp: Giữ cho đèn ở lối vào nhà luôn được bật sáng. Sử dụng một chiếc đèn treo pha lê nhiều ngọn hình lăng trụ để tạo nên những màu sắc khác nhau ở lối vào thực sự có hiệu quả tốt.
Hoặc là bạn cũng có thể treo một đồ pha lê ở dưới đèn để tạo hiệu ứng ánh sáng hình lăng trụ trong phòng nghỉ. Nó thực sự hữu ích nếu như cầu thang của bạn đối diện hay ở phía cuối gần với cửa trước, những cơ hội tốt sẽ đi vào nhà.
Giữ cho đèn ở lối vào nhà luôn được bật sáng để thu hút nhiều cơ hội đến với công việc.
- Thêm nước vào phía trước nhà: Hãy cân nhắc khi đặt vòi phun nước (phía bên trái của cửa khi bạn nhìn ra ngoài ngôi nhà) trong hay ngoài ngôi nhà. (Một đồ vật liên quan đến nước ở phía bên phải của ngôi nhà sẽ mang đến những lừa dối trong hôn nhân).
Nếu như bạn đặt một đồ vật chứa nước ở phía ngoài ngôi nhà thì hãy đảm bảo dòng nước phải chảy về phía ngôi nhà. Đó là một trong những cách tốt nhất để mang đến những cơ hội cho bạn.
2. Nơi làm việc: 8 yếu tố chính
- Vị trí ngồi làm việc: Ví trí ngồi đầy quyền năng là đối mặt (nhưng không phải ngồi hướng thẳng) với cửa ra vào. Đừng bao giờ ngồi quay lưng về phía cửa ra vào. Nếu như nội thất trong phòng làm việc hay phòng ngủ nhỏ được xây ở đây thì hãy di chuyển máy tính của bạn vì thế bạn có thể nhìn thấy một ai đó đi vào từ cả hai phía bên phải và bên trái.
Không nên ngồi làm việc quay lưng hoặc hướng thẳng với cửa ra vào.
- Rút một con số trong vòng bát quái: Hãy đối diện với chỉ dẫn tốt nhất của bạn nếu như tất cả đều có khả năng nhưng đừng bao giờ bỏ qua vị trí số 1 ở trên. Sử dụng theo chỉ dẫn cá nhân càng nhiều càng tốt.
- Ngừng việc nói chuyện phiếm: Nếu như nói chuyện phiếm là một vấn đề trong công việc của bạn thì hãy đặt một bức tượng con gà trống ở trên bàn làm việc theo hướng nhìn thấy tất cả mọi người đi vào phòng làm việc. Nó sẽ giúp bạn kìm chế lại việc nói chuyện trong văn phòng.
Đặt bức tượng chú gà trống ở vị trí quan sát được các đồng nghiệp trong phòng giúp bạn kiềm chế việc nói chuyện riêng.
- Lấy được sự ủng hộ: Điều đó cực kì quan trọng cho một công việc tốt vậy tại sao bạn không có một vật gì cứng rắn ở đằng sau bạn. Nếu như bạn có một cửa sổ ở phía sau lưng, bạn sẽ phải chịu đựng việc mất đi những sự ủng hộ. Hãy thay thế bằng một chiếc tường ở phía sau bạn.
Và cũng chắc chắn rằng không có giá sách hay tủ trưng bày mở nào ở phía sau bạn. Hãy đặt chúng ở nơi mà chúng không hướng thẳng về phía bạn hay bàn làm việc. Điều đó cũng có nghĩa là phải đảm bảo không có giá sách nào đối diện với bạn. Hãy di chuyển chúng đi nếu như bạn có thể làm được. Cũng nên đảm bảo rằng không có tiền sảnh, cầu thang hay lối vào nào đối diện trực tiếp với bàn làm việc của bạn.
Không nên ngồi quay lưng lại với một tấm kính vì nó sẽ khiến bạn mất đi sự ủng hộ. Tránh để giá sách hoặc tủ đối diện trực tiếp với bàn làm việc của bạn.
- Làm nổi bật góc phòng: Hãy đặt một loại cây ở phía góc Đông Nam của văn phòng. Bạn nên loại bỏ đi những cây yếu và mảnh khảnh. Tốt hơn hết là sử dụng một cây lụa đầy tươi mới hơn là một cây thật vì chúng sẽ nhanh chóng héo tàn.
- Bị để ý: Bạn gặp rắc rối vì bị để ý. Hãy đặt một cái đèn ở phía góc Nam của văn phòng để dễ nhận thấy. Bạn cũng thể đặt những đồ vật màu đỏ, đá hay đồ pha lê ở vị trí này. Tảng đá càng to thì càng tốt.
- Khởi động lĩnh vực nghề nghiệp của bạn: Hãy đặt một con rùa ở góc phía Bắc của văn phòng để biểu tượng cho nước và sự ủng hộ. Hoặc là cũng có thể đặt một bức tranh lớn hay đồ chứa nước ở đây. Nếu như bạn muốn phát đạt thì hãy đặt một bể cá với tám con cá vàng và một con cá vàng đen ở đây.
Biểu tượng rùa đặt ở phía Bắc phòng làm việc giúp bạn nhận được nhiều sự ủng hộ hơn trong công việc.
- Cần sự giúp đỡ: Điều đó có nghĩa là bạn biết ai là người chủ chốt và bạn muốn làm việc với họ. Vì thế hãy đảm bảo rằng góc phía Tây Bắc được trang trí. Bạn muốn những người cố vấn và mọi người giúp đỡ bạn đúng không. Nếu đúng như vậy, bạn hãy đặt một tảng đá hay một hốc tinh ở đây hoặc đặt những đồ vật bằng kim loại ở vị trí này.
Những chiếc đài hay đồ điện cũng là những đồ vật tốt nên đặt ở phía Tây Bắc để mang đến những người cố vấn giúp đỡ bạn. Những đồ vật bằng vàng, bạc hay có màu trắng thực sự tốt khi đặt ở đây. Cố gắng thử treo một chiếc chuông gió sáu thanh ở khu vực này.
Khi cần đến sự giúp đỡ trong công việc, bạn hãy trang trí góc Tây Bằng bằng những đồ vật kim loại, vàng, bạc hoặc những đồ có màu trắng... Chuông gió 6 thanh là một gợi ý hay cho bạn.
► Lịch ngày tốt gửi tới bạn đọc công cụ xem tướng và xem bói tử vi để biết tính cách, số mệnh của mình
1. Cổ tay tròn trịa và đầy đặnNgười có cố tay tròn trịa, đầy đặn thường rất vượng về tài lộc. So với những người cùng trang lứa, người này gặp nhiều may mắn về tiền bạc hơn. Đa phần trong số họ đều được thừa hưởng di sản tổ tiên hoặc được sinh ra trong gia đình có nền tảng kinh tế vững chắc. Chỉ cần người này nỗ lực và kiên trì tới cùng thì công thành danh toại, cuộc đời giàu sang phú quý.2. Khuỷu tay lõm lại, đầy đặnKhi giơ thẳng cánh tay gần như không nhìn thấy xương khuỷu tay lồi ra mà chỉ thấy phần khuỷu tay lõm lại, đầy đặn, nhiều thịt. Người có đặc điểm này thường có đầu óc thông minh, nhanh nhạy, biết chớp lấy thời cơ để gặt hái thành công một cách dễ dàng.
Ảnh minh họa
Tuy nhiên, người này có nhược điểm là tính cách nóng vội, dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài. Nếu biết cách điều chỉnh và tiết chế cảm xúc bản thân, suy nghĩ lí trí và hành động quyết đoán hơn, chắc chắn người này sẽ lập nên nghiệp lớn, sống cuộc đời giàu có, thành đạt.3. Cổ dàiTrong Nhân tướng học, độ dài chiếc cổ cũng cho biết phần nào ý chí tiến thủ và tham vọng về quyền lợi của mỗi người. Người có chiếc cổ dài hơn so với mức bình thường thì làm việc tỉ mỉ, chăm chỉ, tài vận tốt, có tài làm quản lí hoặc lãnh đạo.Trong bất cứ hoàn cảnh nào, người này đều kiên trì tới cùng, đối mặt với thách thức, khó khăn để chinh phục mục tiêu và trở thành người tiên phong trong mọi hoạt động. Đây là một trong những đặc điểm thường thấy ở tướng người giàu sang phú quý.4. Cẳng chân chắc nịchCẳng chân hoặc bắp chân chắc nịch ý chỉ người có sức lực bền chặt, dẻo dai, tính cách ổn định và chân thành. Người có đặc điểm này có lập trường vững vàng, ý chí kiên định nên làm gì cũng gặt hái được thành công. Khi đã xác định hướng đi đúng đắn, người này chỉ việc tiến hành đúng kế hoạch và kiên trì tới cùng là đã có những thắng lợi bước đầu.5. Vòng ba đẫy đàNgười có vòng ba đẫy đà rất thích hợp với việc đầu tư, kinh doanh. Họ khá “mát tay” với những dự án tài chính lớn nên cuộc sống sung túc, không bao giờ phải lo tiền bạc vật chất. Bất luận là hình dáng vòng ba ra sao, chỉ cần đẫy đà thì cơ hội kiếm tiền nhiều hơn hẳn so với những người có vòng ba “khiêm tốn”. 6. Bàn chân không có vânHai bàn chân đầy đặn, không hoặc ít đường vân ngang dọc là người có năng lực thực thụ và giỏi giang. Tuy người này gặp không ít khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, nhưng bằng chính thực lực và tài trí của mình, họ kiếm được bội tiền, không phải lo lắng về đời sống vật chất.An Khánh (Theo MGSP) Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thùy Dung (##)
Chàng trai Nhân Mã dáng vẻ khỏe mạnh, sáng sủa, vừa nhìn đã biết là người chân thật. Vì lẽ đó dù đối với ai cũng rất thoải mái không có ý kiến gì, trên phương diện tình cảm lại càng ngốc nghếch.
Mục Lục
Nam Nhân Mã – nữ Bạch Dương: độ hợp 100
Nam Nhân Mã – nữ Kim Ngưu: độ hợp 40
Nam Nhân Mã – nữ Song Tử: độ hợp 60
Nam Nhân Mã – nữ Cự Giải: độ hợp 40
Nam Nhân Mã – nữ Sư Tử: độ hợp 100
Nam Nhân Mã – nữ Xử Nữ: độ hợp 50
Nam Nhân Mã – nữ Thiên Bình: độ hợp 90
Nam Nhân Mã – nữ Hổ Cáp: độ hợp 80
Nam Nhân Mã – nữ Nhân Mã: độ hợp 80
Nam Nhân Mã – nữ Ma Kết: độ hợp 70
Nam Nhân Mã – nữ Bảo Bình: dộ hợp 90
Nam Nhân Mã – nữ Song Ngư: độ hợp 50
1. Nam Nhân Mã – nữ Bạch Dương: độ hợp 100
Nhân Mã thích mạo hiểm, Bạch Dương theo đuổi kích thích đều là chòm sao nhóm Lửa nên vô cùng phù hợp, là cặp đôi hoàn hảo. Trường hợp thường xuyên diễn ra nhất là nhất kiến chung tình, vừa gặp đã yêu, thuận tiện tiến tới yêu đương. Hơn nữa càng ở chung càng thấy hợp.
Cả hai đều là người nhiệt tình, kể cả ở nơi công cộng cũng không kiêng kị gì mà thể hiện yêu thương, thực sự là khiến người khác phải đỏ mắt đố kị mà. Tình cảm dành cho nhau tự do, không chủ quan, không bao giờ tự tiên mang tình yêu ra đùa giỡn, có thể nói nàng Bạch Dương là tình yêu của chàng trai Nhân Mã, ở bên nhau sẽ hạnh phúc trọn vẹn.
Xem thêm bài viết Chọn chàng kết đôi chuẩn chỉnh cho cô nàng Bạch Dương
2. Nam Nhân Mã – nữ Kim Ngưu: độ hợp 40
Đây là cặp đôi kì lạ bởi chàng trai Nhân Mã làm việc với tốc độ nhanh như điện xẹt, vừa nghĩ tới liền tức khắc biến thành hành động; ngược lại, cô nàng Kim Ngưu chậm chạp, thích hoàn thành công việc một cách ổn định, vững vàng. Hai người nhìn từ xa đã thấy rõ sự chênh lệch.
Nhân Mã vẫn tiến về phía trước, Kim Ngưu vẫn từ từ phía sau, tốc độ không cùng một bước nên ở bên nhau chắc chắn có nhiều điều không theo kịp. Chẳng sớm thì muộn chàng Mã Mã cũng theo đuổi những điều thú vị mới mẻ mà bỏ nàng Ngưu chan lại một mình thôi.
3. Nam Nhân Mã – nữ Song Tử: độ hợp 60
Tính cách của hai người này rất giống nhau, đều theo trường phái hành động, phản ứng nhanh, yêu thích mạo hiểm nhưng đối với chuyện tình cảm lại không đủ chuyên tâm. Một trong hai người phải trở thành bến bờ níu giữ người kia nhưng ở đây cả nhân Mã và Song Tử đều thích dong buồm ra khơi hơn.
Khi xảy ra sự tình, cách thức xử lý của hai người gần giống nhay, không cãi vã quá khích mà lạnh lùng vô tình, không ai chịu chủ động. Với tình huống này, chỉ cần chút va chạm là có thể tan vỡ bất cứ lúc nào, hơn nữa còn có họa người thứ ba rất rõ ràng nữa cơ.
4. Nam Nhân Mã – nữ Cự Giải: độ hợp 40
Có thể nói đây là tổ hợp không mấy thuận lợi dù bề ngoài thì khá đẹp. Nhân Mã vui vẻ, phóng khoáng và Cự Giải tâm lý, hòa nhã quả thực là đôi lứa xứng đôi. Nhưng thực chất, Cự Giải tâm tư cẩn thận, Nhân Mã lại quá kích động, Cự Giải thích bình yên đẹp đẽ còn Nhân Mã lại ưa mạo hiểm và muốn dấn thân vào những điều thú vị.
Lâu dần, Giải Giải không thể kiểm soát được Mã Mã, còn Mã Mã không thể chịu nổi sự kiềm tỏa của Giải Giả, vậy là xung đột, thậm chí căm ghét lẫn nhau. Đối với mối quan hệ này thì tìm được tiếng nói chung là vô cùng quan trọng, là trung tâm để duy trì tình cảm.
5. Nam Nhân Mã – nữ Sư Tử: độ hợp 100
Cùng là chòm sao nhóm Lửa, tính cách đều hừng hực dữ dội, tỉnh táo mà lãng mạn, Nhân Mã và Sư Tử chính là cặp bài trùng, ăn ý vô cùng. Cô nàng Sư Tử chú trọng bề ngoài, chàng trai Nhân Mã rất có guu ăn mặc lại biết cách lãng mạn, tán tỉnh, dễ dàng thỏa mãn được lòng hư vinh nho nhỏ này.
Đương nhiên, hai người ở chung lâu dài thì cần nhất là tình cảm chân thật, phải có sự đổi mới mà điều này là điểm mạnh của họ nên có thể nói đây là tổ hợp 100% duyệt, nhất định sẽ là mối tình không tầm thường, khiến người khác phải thầm ghen tị.
Xem thêm bài viết 10 điều cần biết khi "cầm cưa" nàng Cự Giải
6. Nam Nhân Mã – nữ Xử Nữ: độ hợp 50
Hai người yêu nhau bởi sự hấp dẫn lần đầu nhưng rõ ràng tính cách đôi bên không có nhiều điểm chung, thậm chí còn rất khác biệt. Nhân Mã không để ý những chi tiết nhỏ, tôn trọng tự do trong khi Xử Nữ nghiêm cẩn hà khắc, trong quá trình từng chi tiết nhỏ đều không bỏ qua.
Tình yêu của chàng trai Nhân Mã và cô nàng Xử Nữ nếu có thể cũng chỉ duy trì được nhiệt tình lúc ban đầu chứ rất khó tiến xa. Trừ khi hai người dần học hỏi, thích nghi, thấu hiểu đối phương hơn, bồi dưỡng những điểm chung thì tình cảm mới dần bền vững.
Xem thêm bài viết Xử Nữ và Nhân Mã - cặp đôi hoàng đạo cần hiểu nhiều hơn yêu
7. Nam Nhân Mã – nữ Thiên Bình: độ hợp 90
Thiên Bình là cô nàng nhóm Nước hiền hòa dịu dàng, ghép đôi với chàng trai Nhân mã nhóm Lửa nhiệt tình, nóng bỏng rất hợp. Hai người vừa gặp đã yêu, vừa yêu đã say đắm, như rơi vào bể tình. Mã Mã trời sinh thích tự do một khi đã thích ai thì sẽ rất nóng vội, không quan tâm tới bối cảnh xung quanh, may mà gặp người rộng lượng như Bình nhi.
Bình nhi như làn nước mát lành xoa dịu, làm nhẹ bớt những cơn nóng nảy của chàng trai Nhân Mã, Thiên Bình vốn khéo léo, biết giao tiếp nên đối với chuyện tình cảm rất thư thái, vừa nắm vừa buông, dung tung mà vẫn nắm chắc được con ngựa bất kham Nhân Mã.
8. Nam Nhân Mã – nữ Hổ Cáp: độ hợp 80
Sức hấp dẫn đầy trí tuệ toát ra từ Hổ Cáp khiến Nhân Mã mê mẩn, sự dôi nổi hoạt bát phóng khoáng của Nhân Mã làm Hổ cáp không điều khiển được trái tim mình. Chúc mừng hai người, đúng là cặp đôi hoàng đạo trời sinh, ở bên nhay chẳng chút đắn đo, vừa yêu vừa dìu nhau tiến bước.
Hai người này đều coi trọng tình cảm, chung thủy với tình yêu, biết chia sẻ thế giới nội tâm với nhau. Nhưng điểm yếu là Hổ Cáp hay nghi ngờ nên khó rút ngắn khoảng cách, cần Nhân Mã chủ động xuất kích thì mới phá tan được bức tường, xích lại gần nhau hơn.
9. Nam Nhân Mã – nữ Nhân Mã: độ hợp 80
Cùng thuộc về chòm sao nhóm Lửa, cùng một cung hoàng đạo, hai người hợp nhau ở nhiều phương diện. Cùng nhau điên cuồng, cùng nhau tự do, cùng nhau buông thả, hai người giống ngựa hoang mất cương, mười phần nhiệt tình, dồi dào sức sống, ở chung tự nhiên vui vẻ.
Nhân Mã – Nhân Mã quá hiểu nhau, chẳng phải tỏ vẻ gì nữa. Nhưng điểm cần lưu ý là cả hai đều có nhiều mối quan hệ, bạn bè rộng rãi, kết giao bốn phương nên nếu không có bạn chung thì không gian riêng quá nhiều, dễ lạc mất nhau giữa biển người, cần phải bồi dưỡng vòng tròn xã hội mà cả hai cùng có liên kết.
Xem thêm bài viết Sự thú vị của một nàng Nhân Mã
10. Nam Nhân Mã – nữ Ma Kết: độ hợp 70
Hai chòm sao, hai thái cực, như nước với lửa, như mặt trăng với mặt trời nhưng không phải không hợp đâu nhé. Ngược lại, họ ở bên nhau sẽ tạo thành cặp đôi khá thú vị, có nhiều điểm nhấn và mang tới những sắc thái không ngờ tới trong cuộc đời mỗi người.
Ma Kết trầm lặng, lạnh lùng, đối với sự theo đuổi tự do thái quá của Nhân Mã cảm thấy rất không thực tế, quá ham chơi, vô trách nhiệm. Ngược lại Mã Mã thấy Ma Kết quá nhàm chán, vô vị, tẻ nhạt. Ma Kết không an tâm ở cùng Nhân Mã, Nhân Mã chán ghét ở cùng Ma Kết, hai người phải tìm thấy điểm cân bằng thì mới lâu dài được.
11. Nam Nhân Mã – nữ Bảo Bình: độ hợp 90
Một bên là lửa một bên là khí, khả năng thành đôi rất cao. Nhân sinh quan, thế giới quan, cách đối nhân xử thế cùng phong cách của Nhân Mã và Bảo Bình tương đối giống nhau, tâm ý tương thông, dễ dàng ăn nhịp. Chỉ cần ở đâu có cặp đôi này là ở đấy không khí sôi nổi hẳn lên.
Chỉ cần chú trọng một số chi tiết nhỏ, cuộc sống bận rộn cũng đừng quên duy trì liên hệ để bồi dưỡng tình cảm, không quên mất nửa kia của mình thì tình yêu của chàng trai Nhân Mã với nàng Bảo Bình sẽ ổn thỏa.
12. Nam Nhân Mã – nữ Song Ngư: độ hợp 50
Nhân Mã và Song Ngư là tổ hợp ăn ý nhịp nhàng nhưng lại không thích hợp yêu đương. Nhân Mã đối với chuyện tình cảm có thái độ lửng lơ, không cố định, khiến chòm sao lụy tình như Ngư nhi bị tổn thương, dễ chia tay, rời xa nhau. Song Ngư lúc nào cũng bị động, cần Nhân Mã phải tự chủ, hành động quyết liệt.
Lúc hai người khó khăn cô nàng ấy rất nhạy cảm, mà Mã Mã thì luôn giương cao chủ trương cho tình cảm thuận theo tự nhiên, phát triển tự do, cuối cùng chút cảm hứng ban đầu không còn, vẫn là đường ai nấy đi mà thôi.
Xem thêm bài viết 8 lý do Song Ngư khó hiểu nhất trong các cung hoàng đạo
– Thông qua các nét tướng mặt, bạn có thể đoán biết phần nào tính cách, bản chất con người đối phương để có thể trao gửi tình cảm đúng người.
1. Xem tướng mắtĐôi mắt chính là cửa sổ tâm hồn. Thông qua đôi mắt, bạn cũng có thể thấu hiểu phần nào tính cách, con người cũng như tâm tư, tình cảm của đối phương. Nhìn mắt chọn người, đây là cách đơn giản nhưng lại khá chính xác.Nếu đối phương có mắt hình tam giác, chứng tỏ nội tâm đen tối, làm ít nhưng muốn hưởng lợi nhiều, chưa giúp người đã đòi báo đáp.
Hơn nữa, người này còn kén cá chọn canh trong việc lựa chọn bạn đời, đề ra tiêu chuẩn quá cao. Thường thì đối phương phải đáp ứng về điều kiện kinh tế và nhan sắc thì mới có thể lọt vào “mắt xanh” của người này.Ngược lại, nếu quan sát thấy mắt đối phương có thần sắc, lòng đen và lòng trắng rõ ràng, chứng tỏ đó là người có tâm, trái tim nhân hậu, tốt bụng, có tinh thần trách nhiệm cao. Vì thế, nếu thấy tính cách có điểm tương đồng, bạn hoàn toàn có thể “bật đèn xanh” cho người này.‘Nhận dạng’ người thông minh giỏi giangXem đặc trưng của tướng người phúc đứcSoi tướng mũi của những người thành đạt 2. Xem tướng mũiThông thường, tướng mũi chủ về tài lộc, sự nghiệp. Người có sống mũi cao, thẳng thì tố chất thông minh, coi trọng sự nghiệp, có chí tiến thủ. Dù là trong sự nghiệp hay tình yêu, người này đều cảm thấy viên mãn, thuận lợi.
Nếu sống mũi thấp, lại cong vẹo, khuyết hãm thì tài lộc khó vượng, làm việc dễ bỏ cuộc giữa chừng, dễ bị tác động bởi các yếu tố xung quanh. Ngoài ra, người này thuộc tuýp lãng mạn, làm việc theo hứng, không câu lệ tiểu tiết.Nhìn chung, cuộc sống của người này khá vui vẻ, không nhiều áp lực. Bản thân họ không bao giờ tạo áp lực cho mình, lúc nào cũng tâm niệm sống vui vẻ, thoải mái là được. 3. Xem tướng gò má
Trong nhân tướng học, gò má đại diện cho quyền lực. Phần xương gò má quá cao, cho thấy chủ nhân có tính cách hung bạo, ngang ngược, làm việc gì cũng có dã tâm. Vì thế, đối tượng phù hợp với người này phải có tính kiên nhẫn cao độ, tính tình điềm đạm, cư xử khéo léo. Nếu không, hai bên dễ mâu thuẫn, cãi vã liên miên, hôn nhân khó mà viên mãn.Ngược lại, người có gò má cân đối với toàn khuôn mặt thì lại luôn tìm kiếm cảm giác an toàn. Thế nên, họ rất cần những ai mạnh mẽ, can đảm ở bên cạnh để bảo vệ, che chở.Coi tướng mặt của người dễ nhặt được tiền củaGiải mã bí mật cuộc đời nam giới qua chiếc cằmXem đời người phụ nữ qua tướng cằm 4. Xem tướng cằm
Chủ nhân của tướng mặt mà có cằm tròn đầy, tính tình chân thành nhưng khá thận trọng. Trong việc lựa chọn bạn đời, người này cũng khá kén chọn, nhưng không tới mức thái quá.Còn những ai có cằm nhọn lại rất coi trọng vật chất, trước khi chọn đối tượng cho mình, họ sẽ cân nhắc điều kiện vật chất trước. Thói ham hư danh của người này dường như đã ăn sâu vào bản chất, khó lòng thay đổi.
► Xem nốt ruồi trên mặt đoán tính cách chuẩn xác
Ngân Hà Tránh xa tướng mặt phụ nữ đi tới đâu gieo rắc tai họa tới đó – Phụ nữ có tướng miệng rộng, môi trề thường hay nói nhiều, dễ vướng vào rắc rối thị phi, đi tới đâu gieo rắc tai họa tới đó. Không những Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Đoan Trang(##)
Trong mơ, xuất hiện loài động vật giống với khủng long thời cổ xưa, thường đó là hình ảnh tượng trưng cho người mẹ, người lúc nào cũng sẵn sàng bảo vệ con cái. Mơ thấy bị khủng long đuổi bắt, bạn hoảng hốt lo sợ, cho thấy khát vọng được mẹ chở
Phương vị cát lợi trong cách sắp xếp vị trí bàn thờ –
Xác định hướng bàn thờ Hướng của bàn thờ không phải như nhiều người vẫn thường nghĩ là hướng của người đứng thắp hương. Cũng giống như là xác định hướng bếp, thì hướng của bàn thờ vẫn phải căn cứ vào tuổi của chủ nhà rồi mới tính hướng. Hướng của bàn
Hướng của bàn thờ không phải như nhiều người vẫn thường nghĩ là hướng của người đứng thắp hương. Cũng giống như là xác định hướng bếp, thì hướng của bàn thờ vẫn phải căn cứ vào tuổi của chủ nhà rồi mới tính hướng.
Hướng của bàn thờ là hướng ngược lại với hướng của người đứng thắp hương.
Xác định hướng cho bàn thờ là việc căn cứ vào các bài vị của gia tiên, tức là ta lấy hướng cho các bài vị trên bàn thờ chứ không phải lấy hướng cho người đang sống.
Bàn thờ phải đặt ở phương vị nào trong nhà ở cho thích hợp?
Nói chung đều khuyên nên đặt bàn thờ ở Tài vị, mà Tài vị là nơi ở bên trái cửa, bước vào nhìn thấy ngay.
Luận điểm này cũng phải châm chước vì nhà ở hiện đại, cửa (môn khẩu) không có nghĩa là tọa hướng, đó là điểm thứ nhất; còn điểm thứ hai thì nơi cửa bước vào nhìn thấy ngay không nhất định là Tài vị.
Thí dụ, tọa Nam hướng Bắc, cửa chính tại phương Bắc, phương bên trái khi bước vào cửa nhìn thấy ngay là phương Đông Nam, đối với nhà mà nói rõ ràng Đông Nam là cát vị, nếu đặt bàn thờ ở đó thì bàn thờ hướng Tây Bắc, như vậy là không tốt.
Do đó nơi đặt bàn thờ phải thích nghi với đất cát của nhà ở mới là thượng sách.
Trước hết phải hiểu rõ tọa hướng của nhà ở, mà tọa hướng của nhà ở hiện đại phải lấy phương có không khí lưu thông nhiều nhất, ánh sáng đầy đủ nhất làm hướng, không thể câu nệ vào cửa chính.
Sau khi xác định được rõ ràng tọa hướng, dùng la bàn xác định xem nhà ở thuộc trạch nào, rồi đặt bàn thờ ở phương vị xấu, hướng nào phương vị tốt nhất, đó là cách đặt bàn thờ chính xác nhất.
Dưới đây là bảng kê phương hướng bàn thờ, để tránh lầm lẫn, bảng này lấy hướng làm trạch.
Trong Tướng học, nếp nhăn trên khuôn mặt còn được gọi là văn, tức là vằn vết. Nếu dùng chữ “nếp nhăn” người ta thường nhầm với biểu hiện già ở người cao tuổi, do đó nên dùng chữ “văn” cho hợp với tướng lí hơn. Những nếp văn ấy già trẻ đều có và ở mỗi người khác nhau thì hình dáng cũng không giống nhau. Nếp văn trên khuôn mặt có văn ngang văn dọc.
Ảnh minh họa
1. Văn ngang hay xuất hiện trên trán - Nếu văn ngang này chỉ có một vệt chạy dài không đứt đoạn, cổ nhân gọi là “xuất nhân đầu địa”, đây là đường văn tốt. Người có văn này thường phúc hậu và có cuộc sống khá yên bình. - Văn ngang là hai vệt chạy dài, không đứt đoạn. Đây là dấu hiệu cho thấy thời niên thiếu của người này khá lận đận, về trung và hậu vận mới đỡ vất vả và cuộc sống an nhàn hơn. - Văn ngang là ba vệt chạy dài không đứt đoạn, lại có một vệt thẳng đứng ở giữa trông như chữ vương (王). Đây gọi là văn vương. Người có tướng văn vương thường có cuộc sống phú quý, giàu sang, không phải lo về tiền bạc. - Nếu văn ngang là ba đường chạy dài không đứt đoạn, người này có trí lực phát đạt, suy nghĩ chắc chắn, không lông bông. Theo đó, cuộc đời người có tướng văn này khá thuận lợi và yên ổn. - Nếu văn ngang là nhiều đường đứt đoạn, bập bềnh như vẽ nước, gọi là thủy văn. Người có tướng thủy văn sống hài hòa, biết cảm thông chia sẻ với người khác, nên được mọi người yêu mến. Đây là tướng dễ gần người quyền quý và được quý nhân phù trợ. 2. Văn dọc - Nếu trên má có nhiều vết văn dọc (xuất hiện mỗi khi cử động) gọi là hỏa văn. Người này dễ kiếm tiền, cuộc sống đầy đủ, không lo về tài chính. - Nếu xuất hiện nhiều vết văn dọc dưới mắt như dòng nước chảy, điều này không tốt về đường con cái. - Nếu có ba vệt văn dọc giữa trán như chữ xuyên (川) gọi là “xuyên văn tự”. Nếu ấn đường cao, sắc nét và đẹp, vết không đứt thì người này có số phú quý, sớm được vinh hiển. - Nếu có một văn dọc nằm giữa trán như cái kim treo gọi là huyền trâm văn. Người này có nhiều ưu phiền, thường lo lắng về tương lai xa. - Nếu văn dọc xuất hiện trên mũi, nhưng có dáng vòng như chiếc móc câu thì là người có lòng dạ độc ác, tâm địa đen tối, dễ bị mọi người xa lánh. Lưu ý: Nếp văn trên mặt xem cốt để hỗ trợ chứ không coi làm chủ yếu. Quan trọng nhất là pháp lệnh, văn nhập khẩu, tiếp đến là thủy văn và hỏa văn. Ngoài ra, còn một loại văn rất đáng lo ngại là vết rắn đi hiện trên trán (xà hành văn tại ngách thượng). Loài văn này nằm một mình ngang trên trán, không thẳng mà gấp khúc như con rắn. Xuất hiện văn này là điềm báo xấu cho thấy sẽ chết đường chết chợ, cuộc đời khổ cực. ST Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Minh Thư (##)
Sau khi thực hiện các phương pháp phòng ngừa cần thiết ở trên, bạn có thể tiếp tục cải thiện khí của phòng tắm bằng cách biến nó thành một không gian càng dễ chịu càng tốt. Đây là nơi bạn khởi đầu và kết thúc thời gian hoạt động của mỗi ngày, vì thế,
Đa số chúng ta đều sống gấp gáp, căng thẳng và thật sự cần không gian yên tĩnh để thư giản và nghỉ ngơi. Một phòng tắm sạch sẽ, gọn gàng, mang tính thẩm mỹ “mời gọi” bạn ngâm mình trong bồn nước nóng pha muối cùng mùi hoa oải hương để rửa trôi hết lo lắng. Hãy kết hợp với nến, nhạc nhẹ và khăn tắm mềm. Phòng tắm chỉ có màu trắng gợi lên sự lạnh lẽo và đơn sơ, vậy hãy bổ sung sự ấm áp bằng khăn tắm và đồ trang trí màu nhạt, nến thơm nhiều màu và tác phẩm nghệ thuật hấp dẫn.
Ngày nay, phòng tắm đi liền với phòng ngủ rất phố biến. Vấn đề là với cách bố trí này, phòng ngủ sẽ bị năng lượng làm tiêu hao của phòng tắm xung chiếu suốt đêm, có thể dẫn tới việc ngủ không ngon, năng lượng yếu và các vấn đề sức khỏe.
Cách hóa giải tốt nhất đối với trường hợp này là lắp cửa ở lối vào. Nếu không thể, hãy lắp màn cửa và kéo màn che kín suốt đêm, hoặc treo một (hoặc hơn) quả bóng pha lê có cạnh ở lối vào để cản luồng khí lưu chuyển qua.
Tay chân ảnh hưởng với thân thể và cuộc đời của mỗi người , để đoán định sự giàu nghèo sang hèn khá đúng. Tay chân là tướng hình tứ chi của thân thể, tứ chi là nhành rễ còn lông râu tóc là hoa lá. Tay chân ảnh hưởng với thân thể khiến cho sự phát lộ
Hình dáng lông mày của mỗi người là không giống nhau, qua hình dáng lông mày người ta có thể tự dự đoán được vận mệnh cho mình. Theo nhân tướng học, có 5 loại hình dáng lông mày, nếu bạn không sửa sẽ hỏng nửa cuộc đời.
Ảnh minh họa
1. Lông mày thưa và trắng Người này lông mày khá thưa thớt, nhìn xa thì tưởng màu trắng, điều này tiết lộ phản ứng của người này không nhanh nhạy, tâm tư khá đơn giản. Nếu lại là kiểu lông mày hung thì vận mệnh của người này không được tốt cho lắm. 2. Lông mày nhạt và mỏng Là người nhạy cảm, có khả năng làm việc tốt. Nếu là phụ nữ thì biết đối nhân xử thế rất tốt, năng lực làm việc cũng khá tốt, tham gia nhiều các hoạt động xã hội. Tuy nhiên, người này dễ bị tình cảm lấn át lý trí, duyên vận không tốt, thân thể cũng không được khỏe mạnh. 3. Lông mày lơ thơ Người này tính tình nóng nảy nhưng lại rất thông minh, nhìn nhận sự việc một cách nhanh nhạy, chỉ cần thoáng qua cũng có thể hiểu rõ bản chất sự việc, nắm giữ trọng tâm rất nhanh và thường không để tâm vào chuyện vụn vặt. Thế nhưng, người này khá lập dị, dễ bị cảm xúc chi phối, khó nắm bắt và điều khiển cảm xúc của mình.
Ảnh minh họa
4. Lông mày mờ, nhìn xa như không có Những người này bạn thân không có nhiều, họ gặp khó khăn trong việc giao tiếp cũng như kết giao với bạn bè. Tính cách nổi bật là tính không nhất quán, không chín chắn, không đủ mạnh mẽ và kiên cường. Trong cuộc sống buộc phải phấn đấu đạt vị trí địa vị cao, nếu không vận mệnh sẽ không ngừng đi xuống. 5. Lông mày cách xa nhau Người này tính cách hướng nội, ít khi thể hiện tâm sự ra ngoài. Trong cuộc sống họ không có nhiều bạn bè vì tính cách hơi keo kiệt một chút, nhận thì dễ chứ cho thì khó, không hòa đồng với mọi người nên thực sự hơi lạc lõng. Vận trình sức khỏe của người này cũng không tốt. Phương Thùy Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Thanh Vân (##)
► Đoán vận mệnh, tài lộc của bạn qua việc tự xem chỉ tay
Trên bàn tay mỗi người đều có 4 đường chỉ tay cơ bản mà ai cũng có thể tự xem cho mình đó là đường Sinh đạo, Tâm đạo, Trí đạo và Định mệnh. Tuy nhiên ít ai để ý tới đường Công danh, cho biết mức độ thành đạt trong sự nghiệp của mỗi người.
Nắm biết được điều này, bạn có thể chủ động điều chỉnh cuộc sống sao cho phù hợp với tình hình thực tế để bách chiến bách thắng, làm gì cũng gặt hái được thành công.
4 đường chỉ tay cơ bản: 1. Đường Sinh đạo; 2. Đường Tâm đạo; 3. Đường Trí đạo; 4. Đường Định mệnh
1. Vị trí đường Công danh
Trong lòng bàn tay,
đường Công danh là một đường vân dài song song với đường chỉ tay Định mệnh, đường này xuất phát từ ngón áp út và có thể kéo dài xuống tận đáy lòng bàn tay. Đường Công danh cho biết mức độ thành công trong sự nghiệp của mỗi người, biểu thị người đó gặt hái được những thành công gì cho sự nỗ lực, đóng góp của mình.
Ngoài ra, một số ý kiến cho rằng, đường Công danh bắt đầu từ gốc bàn tay và kéo dài đến phía dưới ngón áp út. Đường chỉ tay này còn được gọi là đường Thái Dương vì nó nằm ở dưới ngón áp út – chính là ngón tay Thái Dương.
Số (1) chính là đường Công danh trên bàn tay
2. Tính chất đường Công danh
Giống như
đường Định mệnh trên bàn tay, đường Công danh lúc ẩn lúc hiện và không phải ai cũng có. Trong trường hợp này, cần xem xét công danh ở những khu vực khác trên lòng bàn tay. Ngoài ra, những người không có đường Công danh vẫn có thể thành công, tuy nhiên nhiều khả năng sẽ không được công chúng biết đến.
Những dấu hiệu đặc biệt trên đường Công danh cho biết những sự kiện cụ thể xảy ra trong cuộc đời bạn. Có thể xem được 3 giai đoạn cuộc đời trên đường chỉ tay này đó là lúc nhỏ, khi đã trưởng thành và khi về già.
3. Đặc điểm đường Công danh hé lộ đời người
Đường Công danh sâu, sắc nét cho thấy sự nghiệp của chủ nhân mĩ mãn, gặt hái được nhiều thành công trong mọi mặt của cuộc sống.
Trường hợp đường Công danh bị đứt gãy cho thấy những thăng trầm trong quá trình phấn đấu của bạn. Nhưng nếu nỗ lực hết mình cũng sẽ có được thành quả ưng ý.
Đường Công danh kéo dài và chạy sang ngón tay út là dấu hiệu cho thấy chủ nhân có danh tiếng trong các ngành nghệ thuật.
Phía đầu đường Công danh gần ngón áp út mà chĩa ra như chiếc nĩa ám chỉ người này có thể thành công, nhưng thành công ấy không mang lại giá trị rõ ràng.
Đặc biệt, nếu đường Công danh tạo thành hình ngôi sao hoặc tam giác ở dưới ngón áp út, nhiều khả năng bạn sẽ đạt được những thành tựu vang dội trong nghệ thuật. Nếu đó là hình vuông, chủ nhân sẽ gặp quý nhân phù trợ, người đó chính là lãnh đạo, quản lí của bạn.
ST
Tử vi, hay Tử Vi Đẩu Số, là một hình thức bói toán vận mệnh con người được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết âm dương, ngũ hành, Can Chi…
Tử vi, hay Tử Vi Đẩu Số, là một hình thức bói toán vận mệnh con người được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết âm dương, ngũ hành, Can Chi… bằng cách lập lá số tử vi với Thiên bàn, địa bàn và các cung sao; căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch và giới tính để lý giải những diễn biến xảy ra trong đời người.
Tử vi là tên một loài hoa màu tím. Từ ngàn xưa Khoa Chiêm tinh Tướng mệnh Đông phương thường dùng loại hoa màu tím này để chiêm bốc. Ngoài ra Tử là Tím, còn Vi là Huyền Diệu. Cũng có người cho rằng tên gọi được lấy từ sao Tử Vi, một ngôi sao quan trọng nhất trong môn bói toán này.
Vào thời nhà Tống, văn hóa Trung Hoa thời đó rất thịnh đạt về nhân học. Cũng nhiều triết gia, tâm học, đạo học chuyên nghiên cứu con người để tìm giải đáp cho cuộc sống, tìm quy tắc cho việc xử thế nhằm mưu cầu hạnh phúc cho cá nhân và tập thể. Nền triết học thời Tống thời đó đã xuất hiện nhiều trường phái như Nông Gia, Pháp Gia, Âm Dương bên cạnh các học thuyết lớn như Nho Học, Đạo Học. Hầu hết các môn nhân vận chuyên khảo cứu con người và xã hội, cần thiết cho việc tu tâm, trị nước, xử thế . . .
Đứng về mặt bói toán mà xét, khoa Tử Vi xuất hiện tương đối chậm, vì đi sau khoa bói dịch, khoa nhân tướng, khoa độn giáp, khoa thiên văn . . . Nhưng Tử Vi đã khai mào cho một học thuật riêng, hệ thống hóa được ngành bói toán bằng lý số theo một khảo hướng đặc thù. Mặc dù vay mượn nơi sở học của người thời đại nền tảng triết lý Âm Dương Ngũ Hành, nhưng khoa Tử Vi vẫn giữ được nét đọc đáo nhờ ở một đường lối khảo sát khác lạ, có thể xem một cuộc cách mạng hoặc ít ra như một phát minh biệt lập trong phái học Tướng Số của thời đó, Thủy Tổ của Tử Vi học là một đạo sĩ biệt hiệu là Hi Di, tên thật là Trần Đoàn, sống vào thời nhà Tống (Trung Hoa) .
Đạo sĩ Trần Đoàn đã cố gắng bày ra cách xếp vận mệnh con người vào một lá số, ghi trên một mảnh giấy vỏn vẹn chỉ có một trang, nhưng tổng kê hết cá tính và đời người vào 12 cung và hơn 100 vì sao, được gán cho nhiều ý nghĩa và ngũ hành khác nhau, ngõ hầu giúp con người suy diễn những chi tiết về kiếp số của mình. Tóm tắt cuộc đời phức tạp của con người vào một mảnh giấy một cách hệ thống hóa, đồ biểu hóa một cách khúc chiết. Mặc dù công trình này không tránh được vài sơ khoáng cố hữu nhưng nó vẫn không mất đi giá trị khai sáng cho một bộ môn bói toán hãy còn được tôn sùng ngay trong thế kỷ khoa học không gian này.
Nguồn gốc khoa Tử Vi:
Khoa Tử vi bắt nguồn từ thời nào? Cho đến nay sách sử không ghi lại ai là người khai sáng ra nó. Các Tử vi gia thường chỉ chú ý đến việc giải đoán tử vi hơn là đi tìm hiểu lịch sử. Bởi vậy cho đến nay, lịch sử khoa này vẫn còn lờ mờ. Thậm chí có người còn lầm lẫn khoa Tử vi với những chuyện truyền kỳ hoang đường.
Đời nhà Gia Tĩnh thuộc Minh triều có lưu truyền cuốn Tử vi Đẩu số Toàn thư do tiến sĩ La Hồng Tiên biên soạn. Lời tựa nói Tử Vi đẩu số toàn thư là của tác giả Hi Di Trần Đoàn.
Bài tựa viết như sau: “Thường nghe nói cái lý của số mệnh rất huyền vi ít ai biết cho tường tận để mà thuận thụ coi công danh phú quí trên đời đều có mệnh.
Tôi vì muốn biết nên đă tới tận núi Hoa Sơn chỗ ông Hi Di Trần Đoàn đắc đạo để chiêm bái nơi thờ tự của bậc đại hiền. Lúc ra về thì thấy một vị cao niên thái độ ung dung chân thực đưa cho tôi cuốn sách mà bảo: “Đây là Tử vi đẩu số tập của Hi Di tiên sinh”.
Các sách về Tử vi sau này cũng đều thống nhất rằng người đầu tiên tổng hợp, hệ thống lại thành môn bói này là Trần Đoàn tức Hi Di Lão Tổ, sống vào đời Bắc Tống, Trung Quốc.
Trần Đoàn, tự Hi Di, người đất Hoa Sơn ngày nay về phía Nam huyện Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây. Tương truyền rằng khi ra đời, ông bị sinh thiếu tháng, nên mãi hơn hai năm mới biết đi, thủa nhỏ thường đau yếu liên miên. Trần Đoàn học văn không thông, học võ không đủ sức, thường suốt ngày theo phụ thân ngao du khắp non cùng thủy tận.
Thân phụ Trần Đoàn là một nhà thiên văn, lịch số đại tài đương thời. Về năm sinh của tiên sinh không một thư tịch nào chép. Nhưng căn cứ vào bộ Triệu thị Minh thuyết Tử Vi kinh, khi Trần Đoàn yết kiến Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn vào niên hiệu Càn Đức nguyên niên (năm 963 Dương lịch) có nói: "Ngô kim nhật thất thập hữu dư" nghĩa là “tôi năm nay trên bảy mươi tuổI”. Vậy có thể Trần Đoàn ra đời vào khoảng 888-893 tức niên hiệu Vạn Đức nguyên niên đời Đường Hy Tông đến niên hiệu Cảnh Phúc nguyên niên đời Đường Chiêu Tông. Trần Đoàn bắt đầu học thiên văn năm 8 tuổi.
Bộ Triệu thị Minh thuyết Tử Vi kinh thuật rằng:
"Tiên sinh 8 tuổi mà tính còn thơ dại. Lúc nào cũng ngồi trong lòng thân phụ. Một hôm thân phụ tiên sinh phải tính ngày giờ mưa bão trong tháng, bị tiên sinh quấy rầy, mới dắt tiên sinh ra sân, chỉ lên bầu trời đầy sao mà bảo:
- Con có thấy sao Tử Vi kia không?
Đáp:
- Thấy.
Lại chỉ lên sao Thiên Phủ mà hỏi:
- Con có thấy sao Thiên Phủ kia không?
Đáp:
- Thấy
- Vậy con hãy đếm xem những sao đi theo sao Tử Vi và Thiên Phủ là bao nhiêu?
Thân phụ tiên sinh tưởng rằng tiên sinh có đếm xong cũng trên nữa giờ. Không ngờ ông vừa vào nhà, tiên sinh đã chạy vào thưa:
- Con đếm hết rồi. Đi sau sao Tử Vi là 5 sao, như vậy chòm sao Tử Vi có 6 sao. Đi sau sao Thiên Phủ là 7 sao, như vậy chòm Thiên phủ có 8 sao.
Từ đấy tiên sinh được thân phụ hết sức truyền khoa thiên văn và lịch số."
Du nhập vào Việt Nam
Tuy xuất phát từ Trung Quốc, Tử Vi không được nổi bật lắm trong các môn bói toán khác. Nhưng khi du nhập vào Việt Nam, nó trở thành môn học được ưa chuộng nhất. Có rất nhiều học giả Việt nam đã cống hiến thêm cho môn nầy, trong đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn. Dần dần, Tử Vi Việt Nam có thêm những dị biệt so với Tử Vi nguyên thủy của Trung Quốc.
Những dị biệt giữa Tử Vi Việt Nam và Trung Quốc bao gồm:
Cách an mệnh của Tử Vi Việt nam bắt đầu từ cung Dần, trong khi Trung quốc bắt đầu từ cung Sửu
Cách tính tuế hạn của Tử Vi Việt Nam tùy thuộc vào chi của tuổi người xem. Trong khi tuế hạn của Trung quốc cố định.
(Trích Cốt tủy Khoa Tử Vi của Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại-Sỹ - Đại Nam ấn hành 1994)
Đối tượng xem bói trong tử vi là số mệnh con người.
Số mệnh con người được xét trong tử vi là số phận con người gắn liền với gia đình, dòng họ (ông bà, bố mẹ, anh em, con cái) và những mối quan hệ xã hội.
Các sao trong Tử Vi
Bộ Tử Vi Chính Nghĩa được coi như là chính thư không thấy nói về số sao. Song xét trong mục dạy an sao thì có 93 sao. Nhưng những lá số phụ lục thì chỉ chép có 89 sao. Không thấy an sao Thiên thương, Thiên sứ, Thiên la, Địa võng. Điều này dễ hiểu bởi 4 sao trên đều ở vị trí cố định, không cần thiết an vào.
Có môn phái Tử vi an tới 118 sao. Mỗi ngôi sao có một ý nghĩa. Sao này khi tương tác với sao khác lại có ý nghĩa khác.
Theo Hi Di tiên sinh thì các sao đó là:
14 chính tinh
Vòng Tử Vi có 6 sao: Tử vi, Liêm trinh, Thiên đồng, Vũ khúc, Thái dương và Thiên cơ.
Vòng Thiên Phủ có 8 sao: Thiên phủ, Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát và Phá quân.
Các phụ tinh
Các sao này mang bản sắc riêng biệt được an định trong 12 Cung trên một Thiên Bàn:
Vòng Thái tuế - 5 sao là Thái tuế, Tang môn, Bạch hổ, Điếu khách, Quan phù. Các phái khác thêm vào 7 sao nữa là: Thiếu dương, Thiếu âm, Trực phù, Tuế phá, Long đức, Phúc đức, Tử phù.
Vòng Lộc tồn - 17 sao là Lộc tồn, Kình dương, Đà la, Quốc ấn, Đường phù, Bác sĩ, Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân, Tấu thư, Phi liêm, Hỷ thần, Bệnh phù, Đại hao, Phục binh, Quan phủ.
Vòng Trường sinh - 12 sao là Trường sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Các sao an theo tháng - 7 sao là Tả phụ, Hữu bật, Tam thai, Bát tọa, Thiên hình, Thiên riêu, Đẩu quân.
Các sao an theo giờ - 8 sao Văn xương, Văn khúc, Ân quang, Thiên quý, Thai phụ, Phong cáo, Thiên không, Địa kiếp. Vị trí chính của sao Thiên Không được các phái khác thay bằng sao Địa Không, còn sao Thiên Không thì được an liền sau sao Thái Tuế và đồng cung với Thiếu dương.
Tứ trợ tinh - 4 sao là Hóa khoa, Hóa quyền, Hóa lộc, Hóa kỵ.
Các sao an theo Chi - 17 sao là Long trì, Phượng các, Thiên đức, Nguyệt đức, Hồng loan, Thiên hỉ, Thiên mã, Hoa cái, Đào hoa, Phá toái, Kiếp sát, Cô thần, Quả tú, Hỏa tinh, Linh tinh, Thiên khốc, Thiên hư. Hai sao Hỏa tinh và Linh tinh được các phái khác an theo giờ sinh.
Các sao an theo Can - 5 sao là Lưu hà, Thiên khôi, Thiên việt, Tuần không, Triệt không.
Các sao cố định - 4 sao là Thiên thương, Thiên sứ, Thiên la, Địa võng.
Lá số tử vi
Lá số tử vi được trình bày trên Thiên bàn, địa bàn. Thiên Bàn ở giữa, chung quanh là Địa Bàn với 12 cung.
Tại Thiên bàn, ghi năm, tháng, ngày giờ sinh, giới tính, mạng và cục.
Địa Bàn gồm 12 cung cố định, được đặt tên theo mười hai địa chi, mỗi cung phản ảnh một lĩnh vực, một mặt của đời sống một con người qua những liên hệ công danh, tiền bạc, bạn bè, vợ con, phúc đức, cha mẹ… Các cung trên địa bàn lần lượt mang các tên là: Mệnh, Phụ mẫu, Phúc đức, Điền trạch, Quan lộc, Nô bộc, Thiên di, Tật ách, Tài bạch, Tử tức, Phu thê, Huynh đệ.
Những phương thức để xác định vị trí của khoảng 110 sao lên trên địa bàn được gọi là "an sao".
12 cung của Tử Vi như sau:
Cung Mệnh và Thân
Cung Phụ Mẫu
Cung Phúc Đức
Cung Điền Trạch
Cung Quan Lộc
Cung Nô Bộc
Cung Thiên Di
Cung Tật Ách
Cung Tài Bạch
Cung Tử Tức
Cung Phu Thê
Cung Huynh Đệ (hay cung Bào)
Cách lập lá số tử vi
Lá số tử vi của mỗi người được thành lập dựa vào các yếu tố vào giờ, ngày, tháng, năm sinh (âm lịch) và giới tính.
Trước hết vẽ bản đồ, giữa Thiên Bàn, chung quanh là Địa Bàn với các cung. Bản đồ phải đủ lớn để viết trên 100 Sao.
Ghi năm, tháng, ngày giờ sinh, giới tính, an mạng và tính cục, ghi vào Thiên bàn.
Sau đó xác định các đai vận và ghi trên Địa bàn.
Tiếp đến, tiến hành an sao. Đầu tiên là an sao Tử vi. Sau đó là an các bộ sao Tử vi, Thiên phủ, Thái tuế, Thiên không, Lộc tồn, Tràng sinh, Hung sát tinh, Trung tinh.
Sau cùng ghi tiểu vận.
Cách đoán giải
Muốn lập thành một lá số Tử vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch và giới tính. Cách lập thành lá số Tử vi nói chung có nguyên tắc, trình tự được chỉ dẩn khá rỏ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo trình độ, cơ duyên và kinh nghiệm... của người giải đoán mà sẽ có những lời giải đoán khác nhau.
Khi luận đoán một lá số tử vi, nói chung cần phải theo đúng những tiến trình luận đoán số, nắm được những đặc tính của các sao, nắm được những cung cần phải xem và những vận hạn trong cuộc đời phải biết.
Giới hạn
Có tất cả 518.400 (60 can chi, 12 tháng, 30 ngày, 12 giờ, và 2 giới tính) lá số khác nhau trong Tử Vi. Có người dùng con số nầy để đi đến kết luận rằng Tử Vi không thể dùng để lý giải sự khác nhau của những người sinh cùng thời điểm. Tuy nhiên, muốn giải đoán chính xác một lá số của một người thì cũng nên khảo sát thêm những lá số của những người thân của người đó, mới có thể biết được khá chính xác lá số của người đó.
Mơ thấy dao: Những điều bí ẩn về con dao trong giấc mơ
Con dao là một vật dụng cần thiết trong đời sống sinh hoạt của gia đình. Tính chất cứng và sắc của dao tạo cho ta cảm giác nguy hiểm. Nếu con dao xuất hiện
Con dao là một vật dụng cần thiết trong đời sống sinh hoạt của gia đình. Tính chất cứng và sắc của dao tạo cho ta cảm giác nguy hiểm. Mơ thấy dao có ý nghĩa gì?
► Tham khảo thêm: Giải mã việc mơ thấy cá, mơ thấy máu theo thế giới tâm linh
Ảnh minh họa
Giấc mơ thấy dao cũng có nhiều cách thức giải đoán khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Nếu mơ thấy mình đang mài dao ám chỉ bạn sẽ gặp may về tiền bạc. Có thể bạn cảm thấy ghê sợ về giấc mơ có hình ảnh lưỡi dao dính máu. Tuy nhiên, đây lại là điềm báo tốt lành: tài lộc sẽ đến với bạn một cách bất ngờ.Chắc hẳn, bạn sẽ vô cùng hoảng hốt khi trong mơ có người cầm dao kề cổ mình? Bạn có thể hoàn toàn yên tâm bởi giấc mơ này là điềm báo công việc của bạn sẽ gặp thuận lợi, thành công sắp đến với bạn. Mơ thấy có người cầm dao đâm mình là điềm báo bạn sẽ vượt qua được sự khủng hoảng về mặt tinh thần. Ngược lại, mơ thấy mình cầm một con dao nhỏ đâm ai đó là điềm báo sắp có kiện tụng, liên quan đến pháp luật. Nếu mơ thấy mình cầm dao đưa cho người khác thường là điềm báo bạn sẽ gặp phải những tổn thất bất ngờ trong cuộc sống.
Nếu mơ thấy mình cầm con dao nhỏ nhưng sắc thường là điềm báo sắp có chuyện rắc rối xảy ra trong gia đình.
Mơ thấy mình cầm một con dao to thường là điềm xấu.
Nếu thấy rất nhiều con dao to xuất hiện trong giấc mơ thì đó là điềm báo sắp có cuộc tranh cãi, ẩu đả nào đó xảy ra. Vì vậy bạn hãy chú ý kiềm chế bản thân hơn. Nằm mơ thấy dao để trên bàn là bạn đã thoát được nạn nguy hiểm.Nằm mơ thấy người lạ cầm dao rượt mình là cái chết của bạn đang cần kề.Nằm mơ thấy cầm dao mác là sẽ bị thương, hoặc có kẻ rình rập ám hại.Tổng hợp Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet:
Quỳnh Mai (##)
Mạn đàm về tội lỗi: Như thế nào thì gọi là tội lỗi
Tội lỗi thì ai cũng có, dù ít dù nhiều, khi chưa trở thành bậc thánh nhân thì ai cũng giống nhau ở chỗ đều có tội lỗi gây ra, tự tạo nghiệp mà có nhân quả
Tội lỗi ai cũng có, dù ít, dù nhiều. Khi chưa trở thành các bậc Thánh, ai cũng giống nhau ở chỗ là đều có tội cả. Có khác chăng là mức độ gây nghiệp, tạo tội nhiều hay ít, về phương diện này hay phương diện kia mà thôi. Tội lỗi, theo tuệ giác của Thế Tôn, đó là những hành vi tạo tác bất thiện được tạo ra nơi việc làm, lời nói và suy nghĩ của con người.
Câu chuyện về tội lỗi
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, dạy các Tỷ kheo:
Này các Tỷ kheo, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt ở đời. Thế nào là bốn ? Có tội, nhiều tội, ít tội và không có tội.
Thế nào là hạng người có tội? Này các Tỷ kheo, có hạng người thành tựu thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có tội. Như vậy là hạng người có tội.
Và thế nào là hạng người nhiều tội? Này các Tỷ kheo, có hạng người thành tựu thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có nhiều tội. Như vậy là hạng người có nhiều tội.
Thế nào là hạng người có ít tội? Này các Tỷ kheo, có hạng người thành tựu thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp không có tội nhiều, chỉ có ít tội. Như vậy là hạng người có ít tội.
Và thế nào là hạng người không có tội? Này các Tỷ kheo, có hạng người thành tựu thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp không có tội. Như vậy là hạng người không có tội. Có bốn hạng người này, này các Tỷ kheo, hiện hữu, có mặt ở đời.
(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ II, chương 4, phẩm Loài người, phần Có tội [lược], VNCPHVN ấn hành 1996, tr.72)
LỜI BÀN
Tội lỗi là một trong những thuộc tính cơ bản của chúng sanh. Con người có mặt ở trên đời thì tội lỗi có mặt. Thậm chí từ trong quá khứ, trước khi được sinh ra, tội lỗi hay nghiệp đã đóng vai trò chi phối, là tác nhân chính để hình thành nên hình dáng, tính cách, hoàn cảnh của mỗi cá nhân trong hiện tại. Vì thế, con người là sự kế thừa tội lỗi, nghiệp lực của chính mình và do vậy, người sống trên đời có tội cũng là chuyện bình thường.
Khi chưa trở thành các bậc Thánh, ai cũng giống nhau ở chỗ là đều có tội cả. Có khác chăng là mức độ gây nghiệp, tạo tội nhiều hay ít, về phương diện này hay phương diện kia mà thôi. Tội lỗi, theo tuệ giác của Thế Tôn, đó là những hành vi tạo tác bất thiện được tạo ra nơi việc làm, lời nói và suy nghĩ của con người.
Tuy chúng ta chấp nhận có tội vì hiện ba nghiệp chưa thanh tịnh nhưng tội phải ít và nhỏ thôi và điều cần thiết nhất là tự thân phải rõ biết điều đó. Khi còn trong thân phận chúng sanh, biết rõ những hạn chế, thói hư tật xấu của chính mình để phấn đấu, vươn lên, loại trừ điều ác, đạt đến sự hoàn thiện là tối cần. Con người sở dĩ ngày càng tạo nhiều tội lỗi, một phần do không nhận chân được điều xấu ác hoặc xem những điều xấu ác hiện tồn tại với số đông là bình thường, thậm chí không ít người còn tự mãn với những thành tựu dựa trên nền tảng tham sân si.
Hơn ai hết, người con Phật cần phải trở về với chính mình, biết rõ mọi hành vi của tự thân nhằm kiểm soát, từng bước làm chủ, chuyển hóa ba nghiệp thân khẩu ý xấu ác. Đạt đến sự hoàn thiện, không tội lỗi là một lộ trình dài. Nền tảng cơ bản của lộ trình đó là tuệ tri, biết rõ tự thân có tội nên trước hết phải cố gắng để không tạo thêm nhiều tội lỗi đồng thời phát huy thiền quán để thấy mọi tội lỗi đều xuất phát từ tâm, tâm thanh tịnh tức ba nghiệp thanh tịnh.
Nội dung lễ:Lễ hội đền Lừ được diễn ra trong 3 ngày từ ngày 18 đến 20 tháng 8 âm lịch.
Ngày 18/8: Sáng các cụ bô lão trong làng làm lễ tế yết trong đền cùng với làm thủ tục bao sái tượng và đồ lễ. Buổi chiều làm lễ mở cửa đền và biễu diễn văn nghệ dân gian và các trò chơi trong ngày hội.
Ngày 19/8: Là ngày chính hội, được bắt đầu từ 6h sáng do đội tế nam trong trang phục truyền thống tiến hành tế lễ. Sau đó, là đoàn rước kiệu từ đền Lừ tới đình Hoàng Mai và ngược lại. Đi đầu là đội múa sư tử, múa rồng do các thanh niên trong làng đảm nhiệm. Tiếp theo là đội bát âm, võ sinh, bát bửu, lộ bộ, sênh tiền, tế nam, dâng hương nữ, thanh đồng. Phần rước kiệu long đình được các nam thanh, nữ tú phụ trách (có ngai Trần Hưng Đạo), kiệu phò giá (có ngai Mẫu Thuỷ Tinh) và kiệu võng (có đồ thờ tượng trưng Liễu Hạnh). Buổi chiều được diễn ra với lễ dâng hương lễ Thánh của nhân dân và khách thập phương xa gần và các trò chơi cùng các tiết mục biểu diễn văn nghệ của làng.
Ngày 20/8: Buổi sáng, đây là ngày cuối cùng của lễ hội bắt đầu với màn tế giã hội do các cụ bô lão trong làng trong đội tế nam thực hiện, cùng sự tham gia của dân làng, kết thúc những ngày lễ hội của làng.
Trong những ngày lễ hội, tại đền có tổ chức các trò chơi và biểu diễn văn nghệ như: đọc và bình thơ, đánh cờ, chọi gà, hát chèo…
Liễu là loại cây đẹp với bóng dáng mềm mại và màu xanh dịu mát. Nó thường được trồng nhiều ở ven hồ, trong các công viên tạo vẻ đẹp thơ mộng. Vậy cây liễu có thích hợp khi trồng trước cửa nhà?
Xét về quan điểm hình thế, phần trước của ngôi nhà (minh đường) luôn cần sự quang đãng, sáng sủa, tránh bị che chắn làm giảm tầm nhìn, ngăn cản sự lưu thông của sinh khí vào đại môn (cửa chính). Cây lá lòa xòa trước nhà, theo phong thủy như vậy tức là Mộc khắc Thổ. Nếu cây to sẽ có rễ lớn ăn vào đất ảnh hưởng đến nền nhà, đi lại dễ bị va vấp. Loại cây nhiều lá thì lá rụng đầy sân, bóng râm che khuất khiến nhà thiếu ánh sáng mặt trời. Như vậy, gia chủ gặp nhiều điều bất lợi. Cây liễu được trồng nhiều bên bờ hồ nhưng khi trồng vào khuôn viên nhà với diện tích đất nhỏ, không đủ độ thoáng, thiếu mặt nước rộng tạo độ ẩm để cây phát triển tốt... thì từ liễu rủ nó sẽ dễ trở thành lòa xòa, rũ rượi không đẹp mắt. Đa phần nhà ở truyền thống của cha ông ta đều quay về hướng Nam hoặc Đông Nam là hướng gió chủ đạo. Cây có nhiều lá trồng trước nhà sẽ cản trở gió lành. Vì thế trước nhà chỉ nên trồng cây kiểng hoặc cây mảnh, dáng cao, lá sáng (cau, dừa cảnh). Sau nhà là những cây lá dày rậm (như chuối, bàng…) để che bớt gió lạnh phương Bắc và Đông Bắc.
Ý nghĩa sao Thiên Hư - Bại tinh chủ sự phiền não ưu tư
Hành: Thủy
Loại: Bại Tinh
Đặc Tính: Phiền não, ưu tư, bi quan, phá tán, xui xẻo
Tên gọi tắt thường gặp: Hư
Là sao phụ tinh. Một trong sao bộ đôi Thiên Khốc và Thiên Hư. Gọi tắt là Khốc Hư. Một trong 6 sao của bộ Lục Bại Tinh gồm các sao Tiểu Hao, Đại Hao, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư (gọi tắt là Song Hao Tang Hổ Khốc Hư).
Ý Nghĩa sao Thiên Hư Ở Cung Mệnh:
Tướng Mạo: Thiên Hư là sao ưu tư, âu sầu, cho nên thủ Mệnh thì da xanh, mắt có quầng đen, diện mạo buồn tẻ, mặt thiếu khí sắc, mắt kém thần, hay trông xuống, không trông xa.
Tính Tình: Là bại tinh và là sao âu sầu, SaoThiên Hư có nghĩa:
U buồn, ủy mị hay phiền muộn, đa sầu.
Bi quan, yếm thế.
Hay đãng trí, nghĩ đây quên đó.
Hay hốt hoảng hoang mang.
Ăn nói sai ngoa.
Sao Thiên Hư tượng trưng cho nước mắt, lo buồn, xui xẻo. Chỉ riêng ở hai vị trí Tý và Ngọ thì có nghĩa tốt.
Có chí lớn.
Có văn tài lỗi lạc, nhất là tài hùng biện, nói năng đanh thép, hùng hồn.
Có khiếu hoạt động chính trị.
Ý nghĩa này càng rõ rệt hơn nếu đi kèm với cát tinh.
Phúc Thọ Tai Họa
Ở hãm địa, Sao Thiên Hư chủ sự khốn khổ, đau buồn trong tâm hồn, sự xui xẻo dưới nhiều hình thức và sự yểu.
Ở tại Thìn, Tuất thì hay mắc nạn và vắn số.
Đi cùng với Kiếp, Phù, Khách, Cự, Nhật thì suốt đời bi ai, lúc nào cũng đau buồn, than khóc, tiếc thương vì bệnh tật, vì tang tóc.
Ý Nghĩa sao Thiên Hư Với Các Sao Khác:
Khốc, Hư, Sát hay Phá đắc địa đồng cung: Có quyền cao chức trọng, uy danh lừng lẫy, được thiên hạ nể phục vì uy và tài.
Ý Nghĩa sao Thiên Hư Ở Cung Phúc Đức:
Tổn thọ, có âm hồn báo oán nếu hãm địa.
Mã phát, hiển đạt nếu đắc địa ở Tý Ngọ.
Ý Nghĩa sao Thiên Hư Ở Cung Tài Bạch:
Khó kiếm tiền, hay lo âu vì tiền bạc, hao tài.
Nếu ở Tý Ngọ thì trước nghèo sau giàu.
Ý Nghĩa sao Thiên Hư Ở Cung Tử Tức:
Sinh con khó nuôi, sinh nhiều nuôi ít.
Đẻ mất con, sát con.
Ý Nghĩa sao Thiên Hư Ở Cung Phu Thê:
Bại tinh, Sao Thiên Hư ở đâu đều làm xấu cung đó, trừ phi đắc địa.
Xa nhau rồi mới lấy nhau được.
Nhân duyên trắc trở buổi đầu.
Ăn ở với nhau có nước mắt.
Vợ chồng xung khắc nếu có thêm Kình hay Đà.
Sao Thiên Hư Khi Vào Các Hạn
Chỉ đắc lợi nếu đắc địa, nhưng chỉ thịnh trong 5 năm sau (nếu là đại hạn) hay nửa năm sau (nếu là tiểu hạn) mà thôi.
Gặp Tang Môn: Có tang chế, hoặc gặp phải chuyện buồn thấm thía hoặc vì tang khó hoặc vì tình phụ.
Chúng tôi xin được hân hạnh cống hiến quý bạn tập tự điển Tử Vi, các bạn có thể giải đoán các nét căn bản Tử Vi một cách giản dị, từ đây mà tạo thêm các kinh nghiệm. Sở dĩ ghi thành tự điển theo thứ tự A, B, C, là để các bạn tìm tòi cho dễ lúc thực dụng.
Nhiều bạn có hỏi về các cách giải đoán Tử Vi trong những chi tiết, chúng tôi xin trả lời trong bài “Trả lời Tử Vi” do ban chuyên viên Tử Vi của chúng tôi. Những câu nào có hỏi đến cụ Hoàng Hạc, chúng tôi cũng sẽ ghi rõ.
Bây giờ xin tiếp tục nêu lên những nguyên tắc giải đoán lá số Tử Vi
VĂN XƯƠNG VĂN KHÚC
Là văn tinh, chủ về văn chương, mỹ thuật, cũng chủ về công danh, thi cử.
Ở Mệnh có Xương, Khúc là người đẹp đẽ, thông minh, học giỏi, thích văn chương, nghệ thuật. Ở Mệnh các cô gái, là biểu hiện vừa sự thông minh, vừa sự dâm đãng. Nhưng có những cách xấu thêm vào mới thật là dâm đãng, được các cách tốt chế hóa đi thì lại khá.
Gặp các sát tinh Kỵ, Riêu, mới thật là dâm đãng.
Đến hạn, gặp Xương, Khúc mà không bị phá cách, là thi đậu, thêm danh vọng.
THIÊN KHÔI, THIÊN VIỆT
Là văn tinh, cũng là quý tinh, chủ về công danh, khoa cử, quyền tước.
Ở Mệnh là người thông minh, thích văn chương, học giỏi, nhân hậu. Gặp Hỏa, Linh, Hình lại hỏng, thêm tai họa.
Thiên khôi ngộ Triệt bị giảm nhiều thành cách xấu biểu hiện nạn lớn.
TẢ PHỤ, HỮU BẬT
Là trợ tinh, chủ về quyền, về sự phò tá, sự giúp đỡ. Gặp những sao tốt thì làm cho tốt đẹp thêm. Nhưng bị những sao xấu thì lại làm cho xấu hơn.
LỘC TỒN
Vừa là tài tinh, vừa là quý tinh, phúc tinh. Biểu hiện quyền, lộc, và phúc. Được Lộc Tồn tại Mạng là người thông minh, học giỏi, nhân hậu, ở Tài Lộc, và tránh được các tai họa. Tuy nhiên, Lộc Tồn thường chỉ có một thứ ảnh hưởng. Thí dụ: Tránh được tai họa, thì không giầu… Làm cho thêm phúc thọ và tài lộc. Người nào có những cách dâm đãng (như Đào, Hồng) được Lộc Tồn thì sự dâm đãng bị chế ngự.
HÓA LỘC
Cũng như Lộc Tồn, vừa là tài tinh, vừa là phúc tinh. Giảm chế các tai họa, làm cho nhiều tài lộc. Ở Tài Bạch và Điền Trạch mà có Hóa Lộc là giầu có. Ở cùng cung với Lộc Tồn lại kém, vì khắc nhau. Một sao đóng, một sao chiếu là song Lộc, thì tốt. Hoặc hai sao chiếu Mệnh thì tốt. Gặp Tham, Vũ đồng cung thì tốt. Gặp các sao xấu như Hao, Kiếp, Không, Thiên Không thì lại hao tán, suy bại, Hóa Lộc mất ảnh hưởng.
HÓA QUYỀN
Chủ về quyền tướng. Có Hóa Quyền tại Mạng là người có quyền. Gặp các sao tốt thì làm tốt thêm. Nhưng Quyền gặp các sao xấu, chẳng hơn gì.
HÓA KHOA
Là sao chủ về thi cử và là phúc tinh. Có Hóa Khoa tại Mạng là người có công danh khoa bảng, thông minh, học giỏi, lại tránh được các tai họa. Hạn gặp Hóa Khoa là được thi đậu, hoặc giải được tai họa. Hóa Khoa cùng với Xương, Khúc, Khôi, Việt là những văn tinh, hướng con người vào nghiệp văn hoặc vào chức nghiệp không phải là võ. Được cả bộ Khoa, Quyền, Lộc là được phú, quý, nhiều công danh và tài lộc. Hóa Khoa không sợ sát tinh. Tam Hóa liên châu là bộ ba Khoa-Quyền-Lộc đi trong ba cung liền nhau, do đây gặp Mạng, Thân hay một hạn nào đó mà chỉ dính đến một trong ba sao đó, cũng được ảnh hưởng của ba sao. Hóa Khoa không bị sát tinh giảm.
THIÊN MÃ
Thiên Mã là ngựa trời. Chủ về sự lanh lẹ, thay đổi, di chuyển, và có ý nghĩa tài lộc, công danh, phúc thọ. Nhưng Mã sẽ tốt hay xấu là do những sao khác gặp phải. Mã đóng tại Mạng là người tài. Nếu lại thêm Tử, Phủ đồng cung, là có uy quyền, giầu sang, có phúc thọ. Gặp Nhật, Nguyệt chiếu, hoặc có Lộc Tồn đồng cung, hoặc Lộc Tồn chiếu (Lộc Mã giao trì) cũng có những cái tốt về công danh, tiền tài, phúc thọ. Mã, Khốc, Khách gặp nhau là ngựa có nhạc, có người cưỡi giỏi, là một cách của người có công danh võ nghiệp, hạn gặp Mã, Khốc, Khách là thăng tiến. Mã gặp Hỏa hay Linh cũng tốt vậy. Mã gặp Đà thì hỏng, đó là ngựa què, ở Mạng hay ở Quan Lộc thì công danh hay bị gãy. Mã gặp Hình là hiệu báo tai nạn, tai họa. Mã tại Hợi là ngựa cùng đường, hoặc gặp Tuyệt, đều là hiệu bế tắc. Mã gặp Tuần, Triệt là ngựa chết, là tai họa.
LONG TRÌ, PHƯỢNG CÁC
Cặp sao này chủ sự thông minh, nhân hậu, vui vẻ, nếu ở Mạng. Gặp tại Hạn là được gia đạo yên vui, được sáng láng cửa nhà, may mắn, danh tài hưng vượng, có sự cưới hỏi hoặc sự sanh nở tốt. Cùng với Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, tạo thành quần thần tốt phò tá cho Tử, Phủ. Gặp Phi Liêm có may mắn và vui mừng nhanh chóng.
TAM THAI, BÁT TỌA
Cặp sao này chủ sự thông minh và thành công. Gặp tại Hạn là được sự may mắn, nhà cửa thêm rộng rãi.
ÂN QUANG, THIÊN QUÝ
Chủ sự thông minh, vui vẻ, nhân hậu, ân nghĩa, từ thiện, và giải được các tai ương, có những may mắn không bị sát tinh giảm chế. Được cặp sao này, thì chế ngự được tánh chất dâm đãng của Đào, Hồng
ĐÀO HOA, HỒNG LOAN
Chủ sự vui vẻ, sự thành công, gia cảnh hưng vượng. Nhưng cũng chủ về sự lẳng lơ của đàn bà, sự đa tình. Chủ về đàn bà con gái: gặp tại Hạn là sự báo hỉ hôn nhân, hoặc sự sanh nở con gái. Cũng chủ về sự thi cử tốt, được công danh, được vui mừng.
Được Đào, Hồng, Hỉ thêm cho Nhật, Nguyệt, càng sáng ra. Đào Hồng đi với Tử, Phủ hay Nhật, Nguyệt thì các sao này tốt thêm. Cung Mệnh, Thân có Đào, hay Hồng tọa thủ, hai đời vợ hay hai đời chồng. Nhưng có nhiều cách để phá đi. Hoặc gia thêm sát tinh, là kém thọ, nửa đường gẫy cánh. Đàn và có Đào hay Hồng tọa thủ, gia thêm Riêu, Đà, Kị, là người bất chính về tình ái. Hoặc thêm Binh, Tướng, Thai là bị hãm h…, chửa hoang.
THIÊN HỈ
Chủ sự vui vẻ, may mắn. Gặp tại Hạn, là có vui mừng về công danh, thi cử, sanh đẻ, cưới hỏi.
THAI PHỤ, PHONG CÁO
Chủ về công danh, bằng sắc. Gặp tại Hạn, là có lợi về thi cử công danh
QUỐC ẤN
Chủ về công danh, chức vị và quyền hành (có ấn là có quyền). Gặp tại Hạn có lợi cho thi cử và sự cầu công danh. Nhưng gặp Tuần, Triệt lại hỏng việc, vị mất chức, xuống chức.
ĐƯỜNG PHÙ
Chủ sự thành đạt về công danh và về nhà đất cao đẹp hơn. Nhưng gặp Bạch Hổ đồng cung lại chủ sự bắt bớ, tù đầy.
THIÊN THỌ Chủ sự nhân hậu, từ thiện, thêm phúc thọ.
BÁC SĨ
Chủ sự thông minh, nhân hậu, cứu giải bệnh tật. Gặp tại Hạn là được lợi về sự thi cử, học hành.
LƯU NIÊN VĂN TINH
Chủ về văn chương, sự học, sự thi cử, sự thông minh. Gặp tại hạn là có lợi cho sự thi cử và công danh.
HOA CÁI
Chủ sự thành công, sự quyền quý, lợi cho việc thi cử, và cầu công danh. Tại Mạng mà gặp Hổ, Long, Phượng, hợp thành bộ Tứ Linh (4 con vật linh), là dấu hiệu phú quý, được công danh, uy quyền. Nhưng Hoa Cái gặp Mộc Dục, Thiên Riêu là chủ sự dâm đãng. Mệnh có Hoa Cái, Tấu Thư tọa thủ đồng cung là người thanh cao và thành công.
THIÊN TRÙ
Chủ về sự ăn uống và tài lộc.
THIÊN QUAN, THIÊN PHÚC QUÝ NHÂN
Chủ về sự đức độ, nhân hậu, từ thiện. Là những sao cứu tật bệnh, họa hại, giải trừ nguy nan, gia tăng phúc thọ.
THIÊN GIẢI, ĐỊA GIẢI, GIẢI THẦN
Là những sao giải trừ tật bệnh, tại họa, và gia tăng phúc thọ. Chủ sự nhân hậu, từ thiện… Người già gặp Giải Thần tại Hạn, thì dễ chết (Giải cái khổ là làm cho mau chết). Điền Trạch, Tài Bạch có Giải Thần thì nghèo (của bị Giải đi).
THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC
Chủ sự đức độ và ngay chính. Giải trừ tật ách nhỏ. Chế ngự được tánh dâm đãng của Đào, Hồng.
THIÊN Y
Chủ sự cứu giải bệnh tật. Nhiều bác sĩ có Thiên Y tại Mạng, Thân, Thiên Di, Quan Lộc. Thêm Thiên Hình là bác sĩ chuyên giải phẫu.
THIẾU DƯƠNG, THIẾU ÂM
Là những sao song hành với Thái Dương, Thái Âm, nhưng chỉ là những trung tinh. Chủ sự thông minh, vui vẻ, nhân hậu, giải trừ tật ách. Thiếu Dương gia thêm sức sáng cho Thái Dương, Thiếu Âm gia thêm sức sáng cho Thái Âm, và phải đồng cung mới được vậy. Được một trong hai sao đó cộng với Khoa đồng cung, hoặc xung chiếu là được bộ sao giải trừ tai ách, bệnh tật, gia tăng phúc thọ.
LONG ĐỨC, PHÚC ĐỨC
Chủ sự đức độ, nhân hậu, giải trừ các bệnh tật, tai họa nhỏ. Cũng Thiên Đức, Nguyệt Đức, tạo thành Tứ Đức chế được tánh dâm đãng của Đào, Hồng
LỰC SĨ
Chủ về sức khỏe và sự lanh lẹ, uy lực. Đi với những sao tốt làm cho tốt thêm, sự may đến mau hơn. Đi với sao xấu, làm cho xấu thêm và sự xấu đến mau.
THANH LONG Chủ sự vui vẻ công danh, thi cử, sự cưới hỏi, sanh nở. Thanh Long tại Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) gặp Kỵ đồng cung là rồng trong đám mây ngũ sắc: đó là cách tốt ở Mạng, chủ về phú quý và may mắn, Gặp Lưu Hà đồng cung là rồng ở sông lớn, cũng tốt đẹp, lợi cho thi cử và sự cầu danh.
TƯỚNG QUÂN
Chủ sự dũng mãnh, uy quyền, chủ tánh ưa quyền hành, gặp lại bạn là tốt cho sự cầu công danh, thi cử (Tướng thường đi với Ấn). Cũng là sao của nhà binh. Gặp Thiên Tướng, thêm sự uy quyền. Đàn bà, Mạng có Tướng tọa thủ thì ghen và lấn át chồng. Tướng ngộ Triệt hoặc Tuần (ngay cung) là tướng mất đầu, bị giáng chức hoặc tai vạ lớn lao, nguy đến tánh mạng, nếu không có gì giải cứu.
TẤU THƯ
Chủ về văn chương, sự vui vẻ, khôn khéo.
HỈ THẦN
Chủ sự vui vẻ, việc mừng, sự cưới hỏi. Gặp tại hạn cùng với Long, Phượng là cửa nhà vui vẻ. Hoặc tốt về thi cử, cầu công danh, cưới hỏi, sanh đẻ.
TRƯỜNG SINH
Gia tăng phúc thọ, tốt cho sanh nở, chủ sự tốt đẹp lâu dài. Tọa thủ tại Dần, Thân, Tỵ gặp Mã là Thiên Mã ngộ Tràng Sinh, chủ sự may mắn, tốt đẹp, có công danh tốt. Gặp Mã tại Hợi lại hỏng, chủ sự trắc trở về thi cử, công danh. Trường Sinh tại Tật Ách, thêm các sao xấu là xấu (duy trừ tật ách).
Nhưng để chọn được một cành đào đẹp hay một gốc đào ưng ý hợp phong thủy là một điều không hề đơn giản.
Cây đào được xem là tinh hoa của Ngũ hành, theo phong thủy cây này có thể trị bách quỷ nên khi đón năm mới ta thường thấy các gia đình hay trồng đào hoặc chưng bày một chậu đào trước cửa nhà.
Hoa đào còn là biểu tượng cho sự đổi mới và sức sinh sôi phát triển mạnh mẽ.
Thế nào là một cành đào đẹp?
Để chọn được một cành đào đẹp, trước tiên bạn cần biết một cành đào đẹp thì có hoa cánh kép, màu thắm, cành đều, gốc thẳng. Thân đào có thể xù xì nhưng khoẻ, chắc. Cành vừa phải, dăm (nhánh nhỏ nhất của cành đào) nhỏ, nhiều hoa.
Đào đẹp là đào có dăm vút thẳng ra ngoài tán, nụ trải đều từ đầu tới cuối dăm. Những cành có dăm to thường ít hoặc thưa hoa.
Đào có nhiều giống: đào bích, đào phai, đào trắng (bạch đào, rất hiếm); có đào thế, đào cảnh trồng chậu, đào cắt cành cắm lọ v.v…
Tên của các thế đào chủ yếu lấy theo chữ Nho như ngũ phúc, trực đổ, bạt phong, tam đa, long giáng…, còn hình dáng của các thế đào gợi lên ý nghĩa về biểu tượng cha – con, gia đình, các con vật trong truyền thuyết như long, phụng.
Khi chọn cần chú ý đào thế phải có đủ bộ tứ quý: hoa, nụ, lộc và quả, bởi đó là biểu tượng cho sự đề huề, ấm no của gia đình.
Còn khi chọn đào cây cũng gần giống với đào cành là nên mua các cây có dăm nhỏ và ngắn, các nhánh chính tạo nên dáng cây xuất phát từ một điểm trên thân, như vậy cây sẽ đẹp, cân đối.
Với loại đào cành
Chọn cành to nhỏ tùy theo không gian trong nhà. Điều quan trọng nhất là tán đào phải tròn, các nhánh phân bố đều.
Không nên chọn cành có tán lệch và các nhánh đâm lên không cùng bắt đầu từ một điểm trên thân gốc. Bạn nên tìm mua loại cành có dăm nhỏ. Đào dăm nhỏ thường có nụ rất nhiều và mập mạp, khi hoa nở có cánh dày trông rất đẹp.
Cách tết khoảng 3-5 ngày bạn mới nên mua đào để lúc đào nở hoa rộ sẽ vào đúng mấy ngày Tết. Khi đã mua được cành đào như ý muốn, bạn nên đốt gốc trước khi cắm vào lọ và nhớ rằng nước phải sạch.
Nên cho vào lọ vài viên thuốc vitamin B1, một chút kali để có dinh dưỡng nuôi hoa.
Bạn cũng nên mua các cây có dăm nhỏ và ngắn, các nhánh chính tạo nên dáng cây xuất phát từ một điểm trên thân. Như vậy, cây sẽ đẹp, cân đối.
Đào cây nở chậm hơn đào cành nên bạn phải chọn cây nở nhiều hoa vào lúc cận Tết. Nếu mua cây có ít hoa khi chỉ cách Tết vài ngày thì vào mấy ngày chính của năm, cây đào sẽ kém sắc hoa.
Để đào được bền, tươi lâu, với đào được trồng trong chậu, bạn nên tưới thường xuyên, giữ cây sạch, mát.
Khi cho cây vào chậu, tuyệt đối không được tưới quá nhiều nước, bởi đào là loại ưa ít nước, độ ẩm vừa phải, nếu không nó sẽ chết vì thối rễ.
Màu sắc hoa đào
Tuỳ theo loại đèn, màu tường, cách trang trí nhà mà mua loại đào cho phù hợp. Những nhà nhỏ, tường đèn tuýp nên dùng đào phai để tạo cảm giác sáng sủa, nhẹ nhàng.
Ngược lại, nhà rộng, thoáng dùng bích đào sẽ tạo được những điểm nhấn, cảm giác ấm cúng hơn.
Người có tuổi thường thích đào phai, nhưng theo dân gian, chỉ những nhà trong năm có tang mới cắm loại đào này.
Bí quyết cho hoa nở nhanh hay chậm để đón đúng Tết
Chọn được một cành, cây đào ưng ý rồi thì cách chăm sóc nó ra sao để nở hoa đúng trong 3 ngày Tết cũng rất quan trọng. Bạn có thể điều khiển cành đào nở nhanh hay chậm tùy theo ý muốn.
Đào cành mua về, phải đốt gốc, đốt cành hay nhúng ngay vào chậu nước nóng già 70-80 độ C để các chất dinh dưỡng dự trữ nuôi hoa trong cành không thẩm thấu được ra ngoài…
Nếu cành đào cắm trong nhà nở quá nhanh, có thể dùng dao sắc cứa một vòng quanh thân, cách gốc cành đào 1 gang tay, mục đích hạn chế chất dinh dưỡng lên thân nuôi hoa.
Một mẹo khác thường được người dân sử dụng là cho sỏi vào trong bình giữ lạnh, đào sẽ nở chậm. Người chơi nên thay nước khoảng 2-3 ngày/lần để đào được bền.
Ngược lại, muốn kích đào nở nhanh, người chơi có thể dùng một nắm vôi đắp quanh gốc, đảm bảo sau một đêm đào sẽ nở tung để đón đúng vào ngày mùng 1 Tết, để cầu mong cho gia đạo một năm mới nhiều may mắn.
Trong mắt mọi người, con giáp này khá xuề xòa lại có phần lười nhác. Thực tế, họ thông minh và kỹ tính, chỉ là đôi khi tỏ vẻ bất cần hoặc cười cho qua chuyện mà thôi.
Khi người tuổi Hợi đã xác định mục tiêu, họ nỗ lực hết sức, tận dụng trí thông minh vốn có để đạt được nó nhanh gọn nhất. Trước khi tiến hành làm bất cứ việc gì, trong đầu họ đều đã lên kế hoạch, đường đi nước bước rõ ràng. Chính điều đó mang lại số mệnh giàu sang, phú quý cho người tuổi Hợi.
No2: Tuổi Mùi
Người tuổi Mùi không giỏi trong việc biểu đạt suy nghĩ. Họ cũng rất thận trọng để không phải va chạm với đám đông. Do đó, họ hay được nhận xét là hiền lành và thật thà.
Thực tế, người tuổi Mùi sở hữu trí tuệ thông minh, linh hoạt. Nhìn cách làm việc khoa học của họ, bạn sẽ phát hiện ra điều đó. Họ ít khi thể hiện cảm xúc và tài năng ra ngoài, nhưng khi cần "xuất chiêu", họ sẽ là trung tâm của mọi sự chú ý, khiến bạn phải kinh ngạc.
No3: Tuổi Ngọ
Bề ngoài "phổi bò", vô tư lự của người tuổi Ngọ đã đánh lừa rất nhiều người. Trong mắt số đông, họ thật thà, chất phác và dường như không có sự ganh tỵ hay cố chấp nào.
Bạn đã nhầm, thực tế nội tâm người tuổi Ngọ chứa đựng đầy tham vọng. Bạn đã bao giờ thấy họ làm việc gì tổn hại đến lợi ích của chính họ chưa? Câu trả lời sẽ giúp bạn hiểu được con người có nhiều "quái chiêu" tiềm ẩn như người tuổi Ngọ.
Lâu nay, nói đến mâm ngũ quả, người ta hay liên tưởng đến ý nghĩa đơn giản từ việc mượn tên các loại quả để nói lên khát vọng về “cầu vừa đủ xài sung…”. Thực ra, nó vẫn là hơi hám tàn dư của tín lý phồn thực.
Ngày Tết trên bàn thờ luôn bày trái cây để cúng ông bà gọi là “mâm ngũ quả”. Ở Trung bộ gọi là mâm “quả tử” – nghe ra tuồng như lưu ý đến hạt/tử, hay nói rõ là “quả có hạt”, hơn là quả nói chung, tức có hơi hám của tàn dư tín lý phồn thực: cầu mong sự sinh sản, gieo một hạt được trăm hạt, nhất bản vạn lợi.
Một biến thể “mượn tên”
Hỏi kỹ ra gọi là ngũ quả nhưng không ai rõ quy định là những thứ quả gì mà dường như tuỳ địa phương, tuỳ sự được mùa quả từng năm mà người ta chọn mua hay hái để dâng cúng tổ tiên. Tiêu chuẩn lý tưởng là quả tốt, có màu sắc đẹp và càng có giá trị là các loại quả quý hiếm. Điều kiêng kỵ là các loại quả có tên gọi đồng âm với từ có nghĩa xấu theo đó, cá biệt có nơi người ta kỵ cam (cam chụi), chuối (chúi: chúi đầu, chúi mũi; tức vất vả)… Ngược lại, cũng theo tên gọi, các loại trái ở Nam bộ, người ta thích thơm (thơm tho, thơm danh), sung (sung túc); đủ một câu thể hiện sự mong ước khiêm tốn gồm mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài (cầu vừa đủ xài); quá mức đầy đủ một bậc mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung (cầu vừa đủ xài sung)… Nói chung, mâm “ngũ quả” như vậy là một biến thái có thể coi là mới mẻ mà xu hướng chủ đạo là “tá âm”.
Ngũ - biểu hiện sự sống
Truy nguyên cội nguồn của mâm ngũ quả buộc chúng ta phải xem xét đến hai thành tố của tên gọi: ngũ (số 5) và quả (trái cây), rồi sau đó mới nói đến ngũ quả.
Ngũ, con số 5 là con số chỉ trung tâm. Người ta tìm thấy nó ở ngăn giữa Lạc thư. Tự dạng chữ “ngũ” nguyên thể có hình chữ thập của bốn nguyên tố, cộng với điểm trung tâm. Sau này, hai vạch song song được chêm vào đấy, tức trời và đất mà giữa chúng, âm và dương tạo nên năm nguyên tố tương tác sinh khắc của vạn vật, gọi là ngũ hành. Theo quan niệm cổ đại phổ biến trong khu vực chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, thường cho rằng các quy luật phổ biến đều gộp vào con số 5. Trong Đại từ điển, “ngũ” có đến mười hai nghĩa và một ngàn một trăm bốn mươi tám từ kép ghép với nó. Phổ biến, chúng ta có ngũ phương (Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương), ngũ sắc, ngũ vị, ngũ âm, ngũ tạng, ngũ kim, ngũ quan, ngũ luân, ngũ cốc,… Như vậy, số 5 là biểu hiện chung của sự sống và ở đây “ngũ quả” tự nó biểu trưng một tập thành được coi là đầy đủ của loại lễ vật dâng cúng là quả.
Đối với cư dân nông nghiệp ngũ cốc (đạo/nếp hương, lương/gạo, thúc/đậu, mạch/ lúa mì, tắc/kê) là lương thực chủ đạo và ngũ quả (trái cây nói chung) là thứ yếu. Do đó, theo Chiêm thư người ta thường quan sát sự tốt xấu của “ngũ quả” sau đây để dự đoán việc được mùa của ngũ cốc: 1) Mận chủ vào đậu; 2) Hạnh chủ về lúa mì; 3) Đào chủ vào tiểu mạch; 4) Lật (hạt dẻ) chủ vào nếp hương; 5) Tảo (táo) chủ vào lúa. Theo sự xác tín đã trở thành tập tục phổ biến trong dân gian nên có thể “ngũ quả” nêu trên là “chuẩn” của năm thứ quả dùng làm lễ vật bởi lẽ việc dâng lễ vật nào đều có thể là cách biểu thị sự cầu mong của người dâng lễ. Ở đây, đối với người nông dân thời cổ thì điều cầu mong lớn nhất là được mùa ngũ cốc.
Quả - biểu tượng của sung túc
Trái cây là thứ lễ vật xuất hiện khá sớm trong việc cúng kiếng bên cạnh các loài thú hiến tế (heo, bò, dê: tam sinh; hoặc bình dân hơn: gà, vịt, tôm, cua, cá). Theo khoa nghi nhà Phật, trong danh mục lễ vật lục cúng hay thập cúng có hương (nhang), đăng (đèn), hoa, trà, quả, thực… Tuy nhiên, ở đây, nghi lễ nhà Phật cũng không quy định rõ là quả gì.
Quả/trái cây nói chung là biểu tượng của sự sung túc, dồi dào. Vì quả thường chứa nhiều hạt được đồng nhất với quả trứng vũ trụ, biểu tượng cho mọi nguồn gốc, mọi sự khởi nguyên; biểu trưng quả (với hạt bên trong của nó) biểu thị cho sự phồn thực, sinh sôi và khao khát sự bất tử-hiểu theo nghĩa là sự nối truyền dòng giống miên viễn. Theo chiều hướng này, quả bao gồm cả ý nghĩa biểu trưng vượt lên trên nhịp điệu sinh tồn của vạn vật: sự xen kẽ luân hồi của sự sống và cái chết; giữa cuộc sống dưới đất (của hạt giống) và cuộc sống dương thế…
Trong văn hoá, cụ thể là trong văn học và nghệ thuật tạo hình, quả vừa là biểu trưng chung vừa là biểu trưng có ý nghĩa riêng- hoặc theo sự đồng âm của nó hoặc nó được xác định bởi các tình tiết văn học truyền kỳ, thần tiên…
Lựu được biểu trưng cho sinh con (lựu khai bách tử), dưa hấu nhiều hạt cũng có ý nghĩa tương tự như lựu. Mơ, đào, bầu, phật thủ… đều có ý nghĩa biểu trưng riêng, song đều hội ý chúc tụng cát tường, như ý.
Tóm lại, mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết của chúng ta là một “sản phẩm văn hoá” đã xác lập trong quá trình lịch sử lâu dài, được khuôn đúc theo quan niệm về “bộ ngũ hoàn hảo” và bắt nguồn từ cái nhìn liên tưởng mang tính chất trải nghiệm từ thực tế sinh trụ dị diệt của thực vật. Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)