Vân tay ngón cái bên phải bật mí gì về bạn
![]() |
![]() |
![]() |
Mộc Trà (theo Quiz)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Minh Tuyết (##)
![]() |
![]() |
![]() |
Mộc Trà (theo Quiz)
4. Thương phố tầng trệt khu chung cư
Thương phố tầng trệt khu nhà ở, chỉ vị trí cửa hàng cửa hiệu nằm ở tầng trệt các công trình kiên trúc nhà ở (có thể bao gồm 1, 2 tầng hầm và 1,2 tầng dãy hoặc bộ phận tầng lầu trong đó).

Cửa hàng cửa hiệu tầng trệt khu nhà ở là hình thức đầu tư cửa hàng cửa hiệu mà thị trường trước mắt đang rất quan tâm, được người đầu tư hoan nghênh. Rất nhiều khu chung cư mở rộng hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn từ các gian hàng tầng trệt, nó không những tránh được việc khó bán các tầng trệt khu nhà ở mà còn thu hút được lượng đầu tư tương đối lớn. Đối với những người đầu tư vào cửa hàng cửa hiệu tầng thấp nhất của khu nhà ở mà nói, xét thấy kiến trúc các cửa hàng cửa hiệu của tầng trệt khu nhà ở sẽ mang đến một lượng khách hàng ổn định, các khách hàng tương lai tương đối đáng tin, nói cách khác, mức độ rủi do tương đối thấp.
5. Cửa hàng cửa hiệu trưng bách hoá thương mại, trung tâm mua bán
Sự kinh doanh tốt xấu của bách hoá thương mại và các loại hình trung tâm mua bán đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình kinh doanh của các cửa hàng cửa hiệu trong đó. Trước mắt, trong nước có rất nhiều loại hình này trong hạng mục kinh doanh, ngoài ra còn có không ít các hạng mục shopping mall trong kiến trúc mở rộng thành phố lớn và vừa trong nước.
6. Thương phố lầu thương vụ, lầu làm việc
Thương phố lầu thương vụ, lầu làm việc chỉ không gian thương nghiệp mở các thương nghiệp dùng bên trong như: tiệm rượu, nhà hàng khách sạn, câu lạc bộ, hội sở, trung tâm triển lãm, lầu làm việc… Các quy mô của thương phố loại này khá nhỏ, nhưng giá trị thương nghiệp rất đáng quan tâm.
7. Mở cửa hàng bên cạnh lề đường giao thông
Các cửa hàng cửa hiệu mở bên lề đường giao thông hoặc bên cạnh bến xe, bến tàu, ga tàu, sân bay, hoặc các cửa hàng nhỏ ở các ngã ba đường chính.
Bên trên là dựa theo hình thức mở rộng thương phố mà tiến hành phân loại. Phương thức phân loại này thuận tiện cho nhà đầu tư từ góc độ mở rộng hình thức mà tiến hành lý giải đối với các loại hình hạng mục thương phố, thuận tiện để xây dựng các thương phố với các hình thức kinh doanh phong phú.
Vật cát tường: Tì hưu
Ý nghĩa tượng trưng: Thúc đẩy tài vận phát triển, vượng tồi.
Giải thích: Loại mãnh thú này thân không có vảy, chân không có lông, thần thái uy vũ, cho nên rất tốt bày làm vật cát tường, thích hợp với thiên tài hoặc người làm nghề tuyển dụng, có hiệu ứng rất tốt đối với những người có thu nhập không ổn định. Khi bày chúng thì đầu chúng hướng ra bên ngoài cửa chính hoặc cửa sổ, như vậy mới có lợi cho việc cầu tài.
Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị thất thế (thuyết Ba ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất. Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép lại như sau:

Ngày xưa có hai vợ chồng nhà nọ rất nghèo khổ. Chồng tên là Trọng Cao, vợ là Thị Nhi. Họ lấy nhau đã lâu mà không có con, cho nên thường buồn phiền cãi lẫy với nhau.
Một hôm Trọng Cao quá tức giận mà đánh vợ. Tức mình, Thị Nhi bỏ nhà ra đi, rồi gặp một chàng trai là Phạm Lang, anh này đã dùng lời ngon ngọt và khéo léo quyến rũ được Thị Nhi. Hai người ăn ở với nhau thành vợ chồng. Khi Trọng Cao hết giận, thấy vợ bỏ đi mất, liền đi tìm kiếm khắp nơi, nhưng không thấy tăm hơi, buồn rầu bỏ công ăn chuyện làm, ra đi làm người hành khất để đi tìm vợ.
Một hôm, Trọng Cao đến một nhà khá giả xin ăn, bà chủ nhà đem cơm ra cho. Thì ra đó là Thị Nhi. Hai người nhận ra nhau, tình xưa nghĩa cũ dễ nào quên. Thị Nhi hối hận vì đã lấy Phạm Lang. họ đang hàn huyên thì bất ngờ người chồng mới là Phạm Lang từ ngoài đồng đi làm về, Thị Nhi mới nói Trọng cao vào ẩn trong đống rơm. Phạm Lang về nhà để cốt lấy tro bón ruộng, nên đốt đống rơm lấy tro. Trọng Cao đang say ngủ trong đống rơm vì đường xa mỏi mệt ấy bị chết cháy, người vợ cũ là Thị Nhi, thấy vậy cũng lao vào lửa chết theo. Phạm lang thấy vợ chết cũng lao mình vào đống rơm đang cháy ấy mà chết.
Cũng có tích khác: sau khi Thị Nhi lấy Phạm Lang, một hôm trong nhà cúng đốt mã ngoài sân, có một hành khất vào ăn xin. Thị Nhi nhận ra người chồng cũ của mình, động lòng thương đem gạo ra cho. Bị Phạm Lang nghi ngờ, Thị Nhi lấy làm xấu hổ đâm đầu vào đống lửa đang đốt mã mà tự tử. Trọng Cao cảm tình ân nghĩa cũng lao vào lửa mà chết theo, Phạm lang vì mối tình thương vợ, cũng nhảy vào cùng chết.
Thượng đế thấy ba người có nghĩa mới phong cho làm Táo Quân, và phân chia mỗi người một việc.
-Phạm Lang là Thổ Công trông lo việc bếp.
-Trọng Cao là Thổ Địa trông nom việc nhà.
-Thị Nhi là Thổ Kỳ trong nom việc chợ búa.
Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Bàn thờ thường đặt gần bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp. Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo quân sẽ lên thiên đình để báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Thượng Đế (hay Ông Trời), nên có nơi gọi ngày này là Tết ông Công. Vị Táo quân quanh năm chỉ ở trong bếp, biết hết mọi chuyện trong nhà, cho nên để Vua Bếp "phù trợ" cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa ông Táo về chầu Trời rất trọng thể. Lễ vật cúng Táo quân gồm có: mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những giây kim tuyết màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông Công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấy.
Những đồ "vàng mã" này (mũ, áo, hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Công.
Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo quân một con gà luộc nữa. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) để ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!
Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng một con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý "cá hóa long" nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Con cá chép này sẽ "phóng sinh" (thả ra ao hồ hay ra sông sau khi cúng).
Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì đơn giản hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy là đủ.
Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng...v...v) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc..v...v..) để tiễn Táo quân.
Nguồn Sưu tầm
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Khánh Linh (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Tham khảo thêm những thông tin về: Lịch vạn niên và Lịch âm dương chuẩn xác nhất |
Vì sao thứ 6 ngày 13 bị cả thế giới xa lánh?
Trong phong thủy có không ít phương pháp đổi vận, thúc đẩy tài vận nhưng bất kì phương pháp nào cũng có mặt tốt và mặt xấu, mặt phải và mặt trái. Ngũ Quỷ vận tài là phương pháp thúc đẩy tài lộc nhanh nhất nhưng cũng tiềm ẩn nhiều điều không hay. Cùng xem tác hại của Ngũ Quỷ vận tài để cân nhắc trước khi sử dụng.
![]() |
![]() |
Tổng quan
Luận xem số mạng tuổi này,
Bính Tí mạng Thủy nước đầy tràn sông.
Trai mà sinh đặng Thu Đông,
Như cây gặp nước, như rồng gặp mây.
Bính Tí tánh ở hiền lành,
Có tiền ai hỏi cũng trao đưa liền.
Ăn rồi phản phúc tự nhiên,
Đổi thời không khả nghịch liền tự nhiên.
Một thân thất ý đủ điều,
Nửa lành nửa dữ bao nhiêu chưa đành.
Tới hồi vận giữa hiển vinh,
Căn nguyên tất phát môn đình đổi thay.
Tuổi già vận đến càng hay,
Vinh hoa phú quý vàng son cửa nhà.
Tổng quan
Tuổi Bính Tí là người hiền lành, ít nói, có nội tâm phong phú nhưng không phô trương, bản tính cần cù ham học hỏi. Gặp khá nhiều khó khăn trắc trở trong cuộc sống. Vào trung vận và hậu vận được hưởng cuộc sống sung túc đầy đủ.
Cuộc sống
Tuổi Bính Tí cuộc đời trải qua khá nhiều sóng gió, thăng trầm vào thuở nhỏ, đến trung vận thì cuộc sống được sung túc đầy đủ hơn người khác. Số không được ở với gia đình, luôn muốn sống tự lập và tự làm lấy nuôi thân.
Tuổi Bính Tí số hưởng thọ trung bình từ 65 đến 70 tuổi. Nhưng nếu biết tu nhân tích đức, ăn ở thiện lương thì được gia tăng tuổi thọ, còn sống gian ác, làm những điều xấu thì bị giảm thọ.
Tình duyên
Tình duyên của tuổi Bính Tí cũng khá lận đận, trắc trở lúc tuổi còn nhỏ, qua 30 tuổi thì mới có thể tạo dựng được hạnh phúc. Nếu bạn sinh vào các tháng: 1, 2, 3, 4, 8 và 9 thì cuộc đời bạn thường phải thay đổi về chuyện tình duyên, hoặc đau khổ vì đàn bà.
Gia đạo, công danh
Công danh: bạn có đường công danh khá sáng tỏ, có thể tạo dựng được một cách dễ dàng mà ít khi gặp khó khăn. Thuở nhỏ thường hay có sự thay đổi về công danh, nhưng khi lớn lên thì tạo được nhiều tên tuổi.
Gia đạo: về vấn đề này thì không được hay đẹp cho lắm, số không nương nhờ vào gia đình thân tộc để tạo dựng lấy công danh mà chủ yếu nhờ vào sự giúp đỡ của bạn bè.
Tuổi Bính Tí có một sự nghiệp khá vững chắc, tiền bạc đầy đủ, có thể hoàn thành vào năm 33 tuổi.
Những tuổi hợp làm ăn
Tuổi Bính Tí hợp với các tuổi sau:
Lựa chọn vợ, chồng
Những tuổi đại kỵ
Những tuổi đại kỵ với tuổi Bính Tí:
Ngày giờ xuất hành hợp nhất
Tuổi Bính Tí xuất hành vào những ngày chẵn, giờ lẻ và tháng chẵn là tốt đẹp nhất.
Những diễn biến từng năm
Từ 31 đến 33 tuổi: Những năm này bạn gặp sao hạn, có thể làm cho bạn có nhiều thiệt hại về tiền của, hay có đau bệnh hoặc gặp tai nạn bất ngờ. Tuy nhiên, đường tài lộc và tình cảm lại khá tốt đẹp, công việc làm ăn thuận, tiền bạc ra vào bất thường.
Từ 34 đến 37 tuổi: Thời gian này công danh có thể lên đến đỉnh cao, tiền bạc dồi dào. Tuy nhiên những năm này cũng gặp những tai nạn và những trắc trở trong cuộc sống.
Từ 38 đến 41 tuổi: Những năm này khá tốt đẹp trong cuộc đời. Duy chỉ có năm 41 tuổi bạn nên đề phòng có thể bị sụp đổ về công danh hay có những rủi ro.
Từ 42 đến 47 tuổi: Khoảng thời gian này gia đạo được an vui, công việc làm ăn gặp nhiều thuận lợi. Ngoài ra vào tuổi 45 trong gia tộc có thể có tang.
Từ 48 đến 52 tuổi: Những năm này rất xấu cho bổn mạng của bạn, có nhiều đau buồn trong cuộc đời. Đề phòng những năm này có đau bệnh nặng, hoặc tai nạn xảy ra.
Ghi chú: Nội dung này chỉ là xem hình thức tổng quát, không hoàn toàn chính xác cho từng đương số. Muốn xem chính xác cho chính bản thân của từng đương số, xin vui lòng nhấn vào đây để biết thêm chi tiết.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
THỜI TIẾT
BÍ TRUYỀN HOA KÍNH TOÀN THƯ THÁNG GIÊNG: Cửu tiêu tại Thìn, Thiên hoả tại Tý, Địa hoả tại Tuất, Hoang vu tại Tỵ
NGÀY LẬP XUÂN Trong sáng ít mây, trong năm tốt, âm u thời có sâu phá hoại. Ngày ấy giớ từ hướng Tây Bắc về, có nhiều sương gió hại vật. Gió theo hướng chính Tây về, rét to. Theo hướng chính Đông về, sấm sét dữ dội. Theo Đông Nam về nhiều sâu bệnh phá hại. Theo chính Nam về, nhiều nắng hại muôn vật. Theo hướng Tây Nam về là "Sung phương vi nghịch khí" Rét to, tháng 6 có nước lớn. Ngày ấy yên gió người yên, vật bội thu. Có mây đỏ tại phương Đông, mùa xuân hạn. Mây đen xuân mưa nhiều. Mây đỏ tại phương Nam mùa hè hạn. Cầu vồng phương Đông xuân mưa nhiều. Hè có thuỷ tai, Thu nhiều nước. Mưa xuống qua loa, tuyết trước xuân một ngày, năm ấy tốt.
NGÀY NGUYÊN ĐÁN: Mồng 1 tết gặp Bính, tháng 4 hạn. Gặp Tuất xuân xuân hạn 15 ngày. Gặp Kỷ, Quí gió mưa nhiều. Gặp Tân chủ hạn. Đầu năm gió Đông Bắc, trong năm tốt. Gó Tây Bắc nước lớn. Bốn phương có mây vàng tốt lành. Trong xanh nhiều sâu bệnh. Đỏ chủ hạn. Phương Đông gồm có mây, năm úng thuỷ. Mưa chủ xuân hạn. Cầu vồng xuất hiện hạn nhiều. Mây đỏ chủ hoàng trùng, rau quả vượng. Trời có khí xanh, nhiều sâu. Mây lưỡi chai đỏ chủ hạn. Đen chủ nước lớn. Sương tháng7 hạn. Có chớp người nhiều bệnh. Sấm động thì tháng 7 có sương, chủ nước lớn, rau hại. Có tuyết lớn trong năm tốt, mùa Thu nhiều nước. Ngày 03 gặp Giáp là trên năm (hoặc đầu năm). Ngày 03 được Mão chủ nước lớn, được Thìn khô ráo, mưa gió điều hoà. Trong sáng trên dưới đều yên ổn. Trong tháng mặt trời quầng thành thục ít.
Gió từ Đông Bắc về hạn, Tây Bắc về chủ thuỷ. Ngày 04 gặp Giáp là giữa năm. Ngày 05 ấy trong sáng người yên ổn. Mưa nhỏ ruộng nương tốt, tằm kén thu. Sương mù hại ngũ cốc.
Ngày 08 được Thìn thu hoạch bội. Trong sáng rất tốt. Ngày 07 được Mão xuân ẩm uwowts nhưng thu hoạch tốt. Là Thìn trước hạn sau thuỷ khô nống ngũ cốc được, ruộng cao tốt. Mây u ám trắng thì mùa xuân mưa nhiều. Ngày ấy mà chẳng thấy sao sâm, nữa thángxem thấy đèn hồng. Thục tục lấy là nhật đập thành. Ngày 09 được Thìn, chủ giữa Hè có thuỷ tai. Ngày 20 được Thìn chủ thuỷ. Ngày 12 được Thìn, chủ mùa Đông tuyết lớn, là Dậu rất tốt. Trăng quầng chủ côn trùng bay (có cánh) chết nhiều. Rét lạnh lắm.
NGÀY THƯỢNG NGUYÊN 15-1: Khô tạnh 3 tháng Xuân ít mưa, trăm quả tốt. Gió làm đèn suy yếu (tắt) xung quanh tiết Hàn thực mưa. Ngày ấy có mây mù chủ thuỷ. Mưa làm tắt đèn Thượng nguyên (mưa đêm rằn tháng giêng) mùa Thu kém (gió làm đèn suy yếu). Nửa đêm dựng đứng một cột hình như cái trụ cao 6,7 thước thì tốt mùa màng. Nếu 8,9 thước chủ thuỷ, 3,5 thước thì hạn nhiều (hiệu mống)
NGÀY VŨ THUỶ: Âm thầm nhiều, ít nước, cao thấp đều tốt. Ngày 16 đêm khô tạnh chủ hạn. Gió Tây Bắc về rất lành, có mưa cả năm thu hoạch tốt. Ngày 17 là triệu thu hoạch vụ thu, khô tạnh mùa thu thành, trăm hoa đua nở. Sáng 30-1 mưa gió trong năm phức tạp.
Phân trong tháng có ba ngày Hợi chủ nước nhiều. Mặt trời quầng, ngày Bín Đinh chủ hạn, ngày Canh Tân chủ binh đao. Ngày Nhâm Quý sông nước đầy rẫy. Ngày 23, 24 mặt trời quang ngũ cốc chẳng thành. Ngày 25 mặt trời quầng cam đường đắt. Thượng tuần trăng quầng (1 đến mùng 10) Cây cối sinh sâu. Trung tuần (10 đến 20) trăng quầng ngũ cốc sinh sâu. Hạ tuần trăng quầng (21 đến 30) sấm động vật nhiều. Đến 6,7 đường (vòng) người chết nhiều.
Mùa xuân nhiều tuyết, ứng tại 120 ngày tới có nước lớn.
(còn tiếp)
THÁNG 2: Cửu tiêu tại Sửu, Thiên hoả tịa Mão, Địa hoả tại Dậu, Hoang vu tại Dậu
NGÀY XUÂN PHÂN: Khô tạnh oi bức vạn vật chảng lành. Trăng không sáng có tai hại.
Gió từ Tây Bắc về rét nhiều
Gió từ Đông Bắc về phương Đông Nam sẽ có nước dữ sinh ra
Gió từ Đông Nam về chủ hạn, cây cối sinh sâu, đến tháng 04 còn rét đậm
Giớ từ Tây Nam về nước nhiều.
Gió từ chính Tây phương Bắc nghịch khí, chủ Xuân rét.
Ngày ấy có mây xanh năm tốt lành, có sương hay hạn.
NGÀY 01: Gặp Xuân phân (tuế hiểm) năm ấy nhiều khó khăn. Gặp Kinh trập thì hay bị sâu lúa phá hoại. Ngày 01 ấy có mưa gió thì người tai hại, năm nhiều khó khăn.
NGÀY 02 thấng băng giá chủ hạn. Tục nước Mân gọi là dầy xéo thanh tiết (mầu xanh)
NGÀY 08 gió Đông Nam chủ thuỷ. Gió Tây Bắc chủ hạn. Đêm mưa dâu tằm đắt.
NGÀY 12 gọi là "Hoa sớm" khô lạnh trăm quả kết. Rất kỵ đêm mưa, nếu được đêm ấy khô tạnh, thì cả năm khô ráo mưa phân bố điều hoà.
NGÀY 13: Gọi là "Ngày thu hoa" nên cũng cần trong sáng
HOA SỚM: Một nói rằng 15: Lại là ngày "KHUYẾN NÔNG" Khô tạnh trong sáng trăm hoa thành, mưa gió thì có khó khăn cả năm. Trăng không sáng có tai biến. Nếu đêm ấy mà hình trăng méo như cái tai thì ngô thóc hỏng, người đói. Cầu vồng hay xuất hiện ở phương Đông, mùa Thu thóc kém, hay xuất hiện ở phương Tây, tơ gai đắt người hại. Cú sương hay hạn.
NGÀY XUÂN XÃ: (Sau Lập xuân ngày Mậu thứ 5 là ngày Xuân xã)
Xuân xã trước Xuân phân thì tốt. Sau Xuân phân thì xấu (làm ruộng kém) Ngày Xuân xã khô tạnh sáng sủa trăm hoa đua nở. Chăn nuôi lục súc thịnh vượng
THÁNG 3: Cửu tiêu tại Tuất, Thiên hoả tại Ngọ, Địa hoả tịa Thân, Hoang vu tại Sửu.
NGÀY THANH MINH: Khô tạnh thì mừng, mưa thì trăm quả kém, ít. Gió Tây nam ít dâu tằm. Sấm động lúa mạch hư.
NGÀY 01: Gặp Thanh minh cây cỏ phát triên. Gặp Cốc vũ cả năm tốt mưa gió cây quả nhiều bị sâu hại. Sấm động chủ hạn.
NGÀY 03: Khô tạnh lá dâu tằm đắt. Mưa thì thuỷ hạn chẳng thường. Có sấm chớp tiểu mạch quý.
NGÀY 04: Nếu thấy sương rét lạnh mưa chủ ẩm ướt. NGÀY 06: Đại hoại tường ốc
NGÀY 07: Gió Nam năm ấy nhiều khó khăn cần đề phòng nhiều mặt
NGÀY 11: Là ngày Mạch (lúa mạch) sinh, nên khô tạnh
NGÀY VŨ CỐC: Hôm trước có sương trong năm hạn.
NGÀY 16: Là ngày Hoàng cô tẩm chủng (Hoàn cô thấm tẩm mọi giống) không nên có gió. Nếu gió Tây Nam chủ hạn.
NGÀY 30: Mà có mưa lúa mạch chẳng tốt.
Phàm trong tháng 3 có 3 ngày Mão mọi thứ đậu đỗ tốt. Không thì mạch kém thu. Gặp nhật thực tơ, gạo đắt, gió chẳng suy yếu thì tháng 09 chẳng có sương xuống. Mây kéo dầy, nặng thì mưa dữ sẽ đến. Mưa dũ đến giọi tên là Đào hoa thuỷ. Chủ mưa mai (bay) nhiều, nên đề phòng, chăm sóc cây hoa kẻo úng. Tuyến xuống 3 ngày chẳng rứt thì tháng 09 sương chẳng xuống. Năm Hoang vu - Chớp nhiều năm được mùa.
THÁNG 4: Cửu tiêu tại Mùi, Thiên hoả tại Dậu, Địa hoả tại Mùi, Hoang vu tại Thân.
NGÀY LẬP HẠ: Lập Hạ khô tạnh chủ hạn. Mặt trời quầng chủ thuỷ. Có mưa tốt. Có gió chủ oi nóng. Gió Tây Bắc chủ sương. Gió chính Bắc mưa nhiều. Động đất, nhiều cua các. Gió Đông Bắc lở đất Đông. Gió Nam, hè hạn. Gió Tây mạnh người chẳng yên, cây cỏ hại. Gió chính Tây, sâu. Phương Nam có mây năm tốt lành. Cầu vồng phương Nam hạn lớn có tai. Có sương mù dâu đắt.
NGÀY 01: Gặp Lập hạ, chủ đất động người chẳng yên. Gặp Tiểu mãn cỏ cây tai hại. Ngày ấy khô tạnh trong sáng trong năm tốt. Khô nóng chủ hạn. Mặt trời sinh quầng chủ thuỷ. Gió chủ nhiệt, mà phải lo cho một số giống cây bị mưa hại. Mưa gió lớn, hay có nước lớn. Ngày 01 là ngày Lúa nếp sinh nên tạnh ráo.
NGÀY 08: Đêm có mưa kết quả ít
NGÀY 13: Có mưa lúa mạch không thu.
NGAY 14: Khô tạnh năm được mùa. Gió Đông Nam tốt.
NGÀY TIỂU MÃN: Có mưa năm được mùa lớn.
NGÀY 16: Cũng nên có mưa mới tốt.
Như mặt trời mặt trăng đối chiếu, chủ mùa Thu hạn. Đầu tháng buổi sớm có sắc hồng chủ địa hạn. Chậm mà trắng chủ thuỷ.
NGÀY 20: Tục gọi là ngày "Tiểu phân long" khô tạnh, hạn. Mưa chủ thuỷ.
NGÀY 28: cũng thế. Gió Đông Nam nổi bảo là "Điểu nhi phong tín" chủ nhiệt. Phàm tron tháng có 3 ngày Mão.
Ngày mặt trời quầng mà gặp Nhâm, Quý chủ sông nước đầy dẫy. Nếu rét chủ hạn, ngạn ngữ nói rằng "Hoàng mai hàn tinh để kiêm". Rét Hoàn mai ắt để khô hạn là thế vậy.
THÁNG 5: Cửu tiêu tại Mão. Thiên hoả tịa Tý. Địa hoả tại Dậu. Hang vu tại Tỵ.
NGÀY MANG CHỦNG: Khô tạnh, năm được mùa. Nên mưa tức Hoàng mai vũ (Mưa bay vừa vừa chậm chậm, muộn). Trong nửa tháng không nên có sấm.
NGÀY 01: Gặp Mang chủng lục súc tai hại. Gặp Hạ chí lúa mùa quí không tạnh năm ấy tốt. Mưa thì rất khó khăn. Tuần đầu tháng gió lớn mà không mưa chủ đại hạn. Nước Ngô mướn nước Sở lấy sau ngày mang chuỷ mà gặp Bính (hàng can) thì tiến tới cây gỗ mọc nấm (tiểu My, My là nấm mọc ở cây gỗ mục nát, ngụ ý nước mưa nhầy nhợt gỗ mục mọc nấm). Tiểu thử mà gặp ngày Mùi thì xuất My. Người nước Mân lại lấy ngày Nhâm là tiến My. Ngày Thìn xuất My. Nếu My vũ thì giữa mùa Đông hoa xanh còn nở nghĩa là mùa Đông mưa ấm cây hoa nở tự nhiên như mùa Xuân nhưng chủ hạn là bởi vì mùa Đông mà thanh hoa chẳng lạc (mất đất thấp cố chủ hạn.
NGÀY 02: Mưa nước giếng sâu cũng khô.
NGÀY 03: Mưa thì chủ thuỷ.
NGÀY ĐOAN NGỌ 5-5: Khí trời khô tạnh chủ thuỷ. Trăng không sáng thì chủ hạn, có hoả tai. Mưa chủ tơ vải quý, năm sau được mùa. Mây mù chủ nước lớn. Mưa đá chru cầm thú chết, cây cỏ hại.
NGÀY 12: Gặp Thìn thì ngũ cốc thất thu
NGÀY HẠ CHÍ: Trước tết Đoan ngọ mưa gió điều hoà, nếu ở cuối tuần (21-30) gặp khó khăn lớn. Mặt trời quầng chủ nước lớn. Đêm ấy trời đầy sao ở bên thiên hà (sông ngân Hà) thì ít mưa, sao thưa thì mưa nhiều. Gió Tây Bắc rét nhiều. Gió Bắc nắng rét chẳng phải thời, sống núi nóng nực phát ra. Gió Đông Bắc sông nước có băng giá. Gió Đông Nam tháng 09 nhiều gió to cây cỏ ít ảnh hưởng. Gió Tây Nam chủ tháng 06 nhiều nước. Gió Tây mùa thu có nhiều sương. Ngày Hạ chí mưa gọi là Lâm thừi vũ (thời kỳ mưa dội xuống) chủ mưa nhiều. Sau nửa tháng là tham thời, ngày đầu là thời kỳ đầu, tiếp 5 ngày là trung thời (thời kỳ giữa) tiếp bảy ngày là thời kỳ cuối. Gió phát ra tại 2 ngày trước thời kỳ giữa, xấu lắm. Ngày ấy có sương, mưa lại dai (lâu). Sau 10 ngày có sấm gọi là thời kỳ Tống lôi (tống thời lôi) chủ hạn dai (lâu). Có nhiều mây tiếp "tam phục" oi nóng.
Này ấy phương Đông Nam có khí xanh trong năm tốt. Nếu không ứng ở tháng 10 có tai.
NGÀY 20: là "Đại phân long", hôm sau có mưa (21) trong năm tốt. Ngày 20 không mưa người nhiều bệnh.
Phàm trong tháng có Nguyệt thực chủ hạn. Mây hình pháo xe mọc lên chủ gió lớn gẫy cây. Ngày Thìn, ngày Tỵ hành thổ có mưa, thì sâu trùng phát sinh. Sau Hạ chí 46 ngày trong đó cầu vồng xuất ở Tây Nam (Quán khôn vị) chủ nước lớn, sâu phát inh, cá ít. Thời kỳ ấy không có sấm loài ngũ cốc giảm thu một nửa.
THÁNG 6: Cửu tiêu tại Tý, Thiên hoả tại Mão, Địa hoả tại Tỵ, Hoang vu tại Thìn
NGÀY TIỂU THỬ: Gió Đông Nam nổi mà kiêm cả mây trắng thành từng khối chủ có gió đẩy thuyền bè, liền nửa tháng như thế thì hạn.
NGÀY 01: Mà gặp Hạ chí thì đại hung. Gặp Tiểu thử thì nước lớn. Gặp Đại thử thì người nhiều bệnh. Gặp can Giáp thì đói.
Gió Đông Nam chủ sau hại trăm hoa. Mưa, được mùa.
NGÀY 03: Khô tạnh chủ hạn, cỏ khô. Mù tốt lắm.
NGÀY 06: Tạnh khô chủ có thu hoạch. Mưa thì thu nhiều nước.
NGÀY 30: Gặp Lập thu nếp sớm chậm. Gió nam, sâu phá hại. Chẳng mưa người nhiều bệnh
Phàm trong tháng gặp Nhật, Nguyệt thực thì chủ hạn. Trong vòng tam phục có gó Tây Bắc thì mùa Đông băng giá bền. Khí trời gió mát thì ngũ cốc chẳng kết quả. Cầu vồng hiện nhanh chủ gạo gai quí. Ban đêm chớp ở phương Nam thì khô tạnh lâu lâu. Ở phương Bắc chóng mưa. Tháng bảy cũng như thế.
THÁNG 7: Cửu tiêu tại Dậu, Thiên hoả tại Ngọ, Địa hoả tại Thìn, Hoang vu tại Hợi.
NGÀY LẬP THU: Khô tạnh muôn hoa ít thành thực. Gió mát tốt, nóng bức năm sau hạn lớn.
Lập thu nhiều mây mọc lên thì không có gió ắt không mưa. Gió Tây Bắc rét dữ mưa nhiều. Gió Bắc mùa Đông nhiều tuyết. Gió Đông mùa thu nhiều mưa dữ, cỏ cây mọc lại (tái vinh) . Từ Đông Nam xuaaus. Từ chính Nam hạn. Từ Tây Nam thu hoạch tốt. Từ chính Tây mùa thu nhiều sương.
Phương Tây có mây mưa bay tốt. Phương Nam có mây như đàn dê, tức là "Khôn khí chí dã" chủ ngũ cốc rau rưa tốt, thành. Mây đen tạp nhạp, dâu, gai được. Nếu không có khí sắc ấy chủ năm có nhiều sương. Mây đỏ năm sau hạn. Phương Tây Nam có mây đỏ được ngô. Sau Lập thu trong vòng 16 ngày có cầu vồng xuất hiện chính Tây chủ hạn. Có sấm lúa muộn kém.
NGÀY 01: Gặp Lập thu hoặc Xửa thử, người nhiều bệnh. Nguyệt thực chủ hạn. Cầu vồng hiện ngày 01 ruộng vườn không thu hoạch. Có sương lúa muộn kém.
NGÀY 03: Có mây mù năm tốt lành cây có vinh thịnh.
NGÀY 07: Tối ngày 07 có mưa gọi là Tẩy sa thuỷ (nước rửa xe) rất tốt.
NGÀY 08: Đêm đầy sao mùa thu tốt lắm.
XỬ THỬ: Mưa thì không tốt. Ngày Bạch lộ chẳng phí công, có mưa tốt.
NGÀY 16: Trăng tỏ từ tối tốt. Trăng lên chậm mùa thu mưa. Ngày ấy có mưa năm ấy kém lắm. Ngày ấy là Tẩy bát vũ (mưa rửa bát) Các tăng (sư) tháng 4 ngày 15 kết hạ thượng đường, tháng 07 ngày 15 gải hạ táng đường (Nghĩa là các sư lên đường mùa hè 15-4 đến 15-7 thì tan hè (vào hội lễ hè) nên ngày 16 gọi là mưa rửa bát vậy. Trên đây cũng nói để cùng biết, nếu không có nước rửa bát thì năm sau ắt việc ấy sẽ khó khăn gọi là Hoang đình đường nghiệm lắm.
Phàm trong tháng ngặp Nhật Nguyệt thực, người tai biến mà nước lớn. Mặt trời thường không tỏ chủ sau phá hại. Có 3 ngày Mão được mùa. Mưa nhỏ tốt, mưa lớn hại thóc lúa
THÁNG 8: Cửu tiêu tại Ngọ, Thiên hoả tại Dậu, Địa hảo tại Mão, Hoang vu tại Mão
NGÀY BẠCH LỘ: Trời khô tạnh nhiều sâu. Mưa hại cỏ cây. Ngày ấy gọi là Thiên thu nhật (ngày trời thu). Nếu nạp âm thuộc hoả thì hoàng trùng phát sinh mà hại vật.
NGÀY 01: Gặp Bạch lộ hoả quả, lúa thóc chẳng lên, gặp Thu phân vật quý, khô tạnh mùa Đông hạn. Có mưa lúa mạch tốt. Mưa gió lớn, người chẳng yên. Gió nam, lúa tốt. Nửa đêm ngày 11 tạnh sáng tốt. Ngày ấy xem nước nông sâu mà biết năm sau thuỷ hạn.
NGÀY TRUNG THU 15: Khô tạnh chủ năm tới nhiều nước. Không thấy trăng, chai không đẻ (Bạng vô thai- Bạng là con chai) mà kiều, mạch không thành. Trăng tỏ ít cá. Mưa thì năm sau ruộng thấp được tốt, mà ngày Thượng nguyên không đen.
NGÀY THU PHÂN: Khô tạnh thu hoạch tốt, mưa bay hoặc u ám rất tốt, năm sau càng tốt.
Gió Tây Bắc thì năm sau u ám mưa, Gió Bắc rét nhiều. Gió Đông Bắc gấp gấp chủ tháng 12 u ám rét. Gió Đông trăm hoa kém phát triển. Đông Nam tháng 10 nhiều khí dữ. Gió Nam rất xấu. Gió Tây tốt lắm.
Giờ Dậu phương Tây có mây trắng chủ được mủa to. Mây đen tạp nhập được gai, đậu đỗ. Mây đỏ năm sau hạn. Sau Thu phân 46 ngày trong khoảng ấy có cầu vồng xuất hiện Tây Bắc thì nhiều nước mà người hại. Có sương người nhiều bệnh.
NGÀY 18: Là tràm sinh nhật trước sau ắt có mưa lớn. gọi là Hoạng quyện thuỷ (nước chảy xoáy tròn) . Phàm trong tháng có Nhật thực người hay mắc bện nở ngứa. Có Nguyệt thực đói kém, cá đắt (quý), người có tai. Có 3 ngày Mão hoặc 3 ngày Canh ruộng thấp cây cỏ tốt.
Mây nổi chẳng về, tháng 2 tới không có sấm. Tháng 08 cũng không có sấm. Nếu có sấm, tuyết nhiều mà người hay ốm đau. Từ ngày 13 đến ngày 23 là Chiêm gia thiên (nhà giời đến xét) tối kỵ gieo trồng các giống.
THÁNG 9: Cửu tiêu tại Dần, Thiên hoả tại Tý, Địa hoả tại Tỵ, Hoang vu tại Mùi
NGÀY 01: Gặp Hàn lộ mùa Đông lạnh lắm, gặp Sương giáng thì mưa nhiều, năm sau được mùa. Trong sáng, tạnh muôn vật chẳng thành, mưa gió năm sau hạn, mùa hè mưa nhiều, mưa bay tốt, mưa lớn lúa hại. Cầu vồng hiện gai quí, người tai hại.
NGÀY TRÙNG DƯƠNG 9-9: Khô tạnh ắt ngày Nguyên đán 01-01 và ngày Thượng nguyên 15-01, ngày Thanh minh đều tạnh ráo.
Gió Đông Bắc thì năm sau tốt. Nếu gió Tây Bắc năm sau khó khăn. Ngày ấy là ngày Vũ quy lộ (đường mưa về) có mưa lúa tốt, mạ năm sau càng tốt.
NGÀY 13: Khô tạnh, chủ mùa Đông khô tạnh. Trăng không sáng thì sau phá hại cây cỏ. Phàm trong tháng có Nhật thực thì đói mà dịch bệnh sinh. Có Nguyệt thực chết trâu ngựa. Trong tháng trăng thường không sáng thì sâu bệnh sinh mà vải vóc quí, cây cỏ chẳng rơi dụng (điêu rơi rụng). Năm sau tháng 03 hại nát. Cầu vồng phương Tây các loại đậu đỗ quí, có mưa đá trâu ngựa chẳng lợi. Không có sương sang năm tháng 03 còn rét. Cây cỏ đều hại. Có sấm thì thóc lúa kém đắt.
THÁNG 10: Cửu tiêu tại Hợi, Thiên hoả tại Mão, Địa hoả tại Sửu, Hoang vu tại Dần.
NGÀY LẬP ĐÔNG: Tạnh ráo mùa đông ấm. cá nhiều. Gió Tây Bắc năm tốt lành. Gió Bắc nhiều sương Gió Đông tuyết dầy rét ác liệt. Gió Đông Nam ấm nhiều, mà mùa Hè sang năm hạn. Gió Nam năm sau nữa tháng 05 có dịch lớn. Gió Tây Nam nước to. Gó Đông muôn vật chẳng thành.
Lập đông trong 40 ngày cầu vổng hiện ở phương Bắc mùa đông ít mưa. Mùa Xuân nhiều thuỷ tai. Ba tháng mùa Đông cầu vồng hiện ở phương Tây có mây trắng kèm theo mùa Xuân mưa nhiều. Có mây mù là mộc lộ chủ năm sau nước lớn. Trước mùa Đông mà sớm có sương lúa tốt. Sau mùa Đông sương muộn lúa có thu.
NGÀY 01: Gặp Lập đông có tai dị. Gặp Tiểu tuyết có gió Đông, gạo tốt. Gió tây gạo đắt. Trời tạnh chủ Đông tạnh, mưa gió thì năm sau mùa Hè hạn. Sấm đông người tai hại.
NGÀY 02: Mưa cỏ chi, gai chẳng kết.
NGÀY 15: Tức là ngày Nguyệt vọng, là tháng 5 thứ gió sinh ra. Ngày ấy có gió thì suốt năm mưa gió có hẹn kỳ. Gói là tim của năm thứ gió (Ngũ phong tín) Ngày ấy khô tạnh chủ ấm áp. Nguyệt thực cá quý
NGÀY 16: Khô tạnh mùa Đông ấm.
NGÀY 03: Gió Nam chủ có tuyết, có mưa chủ rét.
Phàm trong thán có Nhật thực mùa Đông hạn. Nguyệt thực thì mùa Thu thóc, cá quý. Trăng không sáng lục súc quí. Có 2 ngày Mão giá gạo bình thường. Lại trong tháng không có ngày Nhâm tý thì sang Xuân còn rét (Thập nguyệt vô Nhâm tý lưu hạn đái hậu xuân). Sấm động người tai hại. Trục nước Mã "Sau Lập đông 10 ngày là nhập dịch đến Tiểu tuyết là xuất dịch trong kỳ mà mưa, muan trùng uống nước ấy mà nở (Chí dịch là nước bọt) nên bảo là Địch dịch vũ. Trong khi sấm mà có mù thì năm sau tháng 05 có nước lớn.
THÁNG 11: Cửu tiêu tại Thân, Thiên hoả tại Ngọ, Địa hoả tại Tý, Hoang vu tại Ngọ
NGÀY ĐÔNG CHÍ: Tạnh ráo chủ năm tốt lành. Mưa lớn muôn vật chẳng thành. Gió rét tốt lắm. Năm mới đầu hè hạn. Gió Đông bắc năm mới thán riêng âm u. Gió Đông sấm lớn, mưa có sấu nhiều chẳng thôi. Gió Đông Nam mọi thứ sâu chại cây cỏ. Gió Bắc tên là tặc phong (gió dữ như giặc) người nên tránh thì tốt. Gió Tây Nam nhiều nước. Gió chính Tây mưa nhiều.
Sau Đông chí trong vòng 16 ngày cầu vồng hiện ở Đông Bắc thì Xuân tới hạn nhiều. Hè có hoả tai, mây xanh phương Bắc dậy thời năm được mùa người yên ổn, mây đỏ thì chủ hạn, mây đen chủ thuỷ, mây trắng tai hại, mây vàng tốt lắm. Không mây năm ác liệt. Có mây mù năm sau hạn. Có khí đỏ chủ hạn khí đen chủ thuỷ. Khí trắng người nhiều bệnh.
Tuyết lớn năm sau tốt, ít thì năm sau hạn. Trước và sau ngày Đông chí có tuyết thì sang năm nhiều nước.
NGÀY 01: Gặp Đông chí năm hoang vu có mưa gió lúa mạch được. Đại tuyết chủ năm sau xaatus.
NGÀY 02, 03: Gặp Nhâm chủ hạn.
NGÀY 04: Gặp Nhâm tốt lắm
NGÀY 05 đến 08: Gặp Nhâm nước lớn.
NGÀY 09: Gặp Nhâm tốt lắm
NGÀY 10: Gặp Nhâm kém thu hoạch
Phàm trong tháng có Nhật thực, người và gia súc đều hại. Gạo cá đắt. Có Nguyệt thực gạo quí. Có mưa sấm mùa Xuân tới gạo quí, mưa nhiều, trong năm khô tạnh. Sau Đông chí 3 ngày tàn là nhập lạp có nghĩa là sau Đông chí đến ngày Tân thứ 3 là bắt đầu tháng Chạp.
THÁNG 12: Cửu tiêu tại Tỵ, Thiên Hoả tại Dậu, Địa hoả tại Hợi, Hoang vu tại Tuất.
NGÀY 01: Gặp Tiểu hàn chủ bạch thỏ kiếm trường ý nói tháng 2 tới tốt. Gặp Đại hàn hổ thương nhân ý nói tháng giêng người hay ốm hại. Có mưa gió xuân tới hạn, có gió đông lục súc tai hại.
NGÀY ĐẠI HÀN: Có mưa gió hại loại chim và thú có cánh. Đêm đến mà gió Đông Bắc chủ năm sau mọi việc tốt. Đên chó cắn năm mới không có dịch. Mưa lạnh dữ dội năm sau tháng 6 tháng 7 có nước lớn đầy dẫy.
Trong tháng có Nhật Nguyệt hực sang năm có thuỷ tai. Trăng thường không sáng ngũ cốc quý. Có mây mù năm sau hạn, ngày Dậu mà như vậy cũng nghiệm. Cầu vồng hiện thóc ngô quý. Sấm động năm sau hạn úng chẳng, phân đều. Tuyết băng mà có sấm thì âm u mưa suốt trăm ngày. Nếu mưa thì Đông xuân. mưa âm u liền 2 tháng. Trước 4 ngày có tuyết năm sau hỏng. Băng giá sau thuỷ dài thì năm sau nhiều nước. Băng giá sau nước lũ thì năm sau hạn. Trong tháng mà các loài mầm mống cỏ cây chẳng thấy thì năm sau ngũ cốc chẳng được. Cây Liễu có xanh thì năm sau rất tốt hoa quả mới thành. Mây mù xuống thì chủ hạn.
Nhiều phòng khách cũng như tổng thể ngôi nhà do yếu tố khách quan của hình thể khu đất hoặc do lỗi khi thiết kế đã tạo ra nhiều không gian bất lợi cho việc sinh hoạt, ảnh hưởng nhiều tới tính thẩm mỹ, cách sắp xếp nội thất trong nhà.
Bởi vậy, giải pháp hạn chế những bất lợi cho phòng khách cũng khá quan trọng, không chỉ liên quan tới phong thủy cuộc sống gia đình mà còn tác động đến mặt sắp xếp nội thất, trang trí nhà.
Phòng khách hợp Phong Thủy
1. Phòng khách có góc nhọn:
Trong trường hợp phòng khách của gia đình bạn có góc nhọn bất hợp lý, có rất nhiều cách hóa giải đơn giản, hiệu quả mà không ảnh hưởng tới kết cấu của tổng thể ngôi nhà. Ví dụ, che góc nhọn đó bằng bức tường gỗ và tiếp theo là trang trí bình thường như tường nhà. Cũng có thể cân bằng những góc như thế này bằng hệ thống tủ, kệ có kích thước vừa vặn, dùng để đồ đạc vụn vặt và đồ trang trí trong nhà. Cách làm này sẽ đánh lạc điểm nhìn của những người xung quanh, tạo sự thu hút vào đồ vật trang trí hơn là vào góc nhọn không cần thiết.
Theo phong thủy, việc đặt một chậu cảnh lớn cũng khá hiệu quả vì chúng có tác dụng tiêu trừ ảnh hưởng của góc nhọn đối với phòng khách. Chú ý nên dùng những loại cây có cành lá tươi tốt, xum xuê hơn là những loại cây nhỏ.
2. Phòng nhỏ hẹp, trần thấp
Hiện nay nhiều căn hộ chung cư có thiết kế trần khá thấp, bởi vậy lời khuyên cho việc lựa chọn nội thất của không gian này là những loại chân thấp, có chiều cao tương xứng với độ cao của trần nhà để tránh cảm giác bị gò bó. Nên tránh ghế có tay vịn cao, giảm thiểu các họa tiết trên trần và thiết kế cửa sổ rộng để tạo không gian rộng rãi.
Phòng nhỏ nên kết hợp màu sắc nhã nhặn, hài hòa giữa sơn tường và nội thất.
3. Bí không khí và thiếu ánh sáng
Không gian nhà phố, đặc biệt là tầng dưới cũng thường bí không khí và thiếu sáng do các công trình xây san sát nhau. Trong khi đó hầu hết phòng khách của gia đình lại được bố trí tại không gian này, bởi vậy điều quan trọng là thiết kế sao cho thông thoáng và thoải mái nhất cho người sử dụng.
Cách thông dụng nhất hiện nay là tạo không gian giếng trời trong nhà, thông gió và lấy sáng hiệu quả. Bên cạnh đó kết hợp với vách kính ngoài mặt tiền để không gian sinh hoạt trở nên dễ thở hơn.
| ► Xem thêm: Bí ẩn 12 cung hoàng đạo và Mật ngữ 12 chòm sao mới nhất |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Cô gái tuổi Mão
Cô nàng tuổi Mão sinh ra đã gặp nhiều may mắn, thế “vượng phu” rất mạnh. Những người đi bên cạnh họ đều có thể “lan truyền” được luồng khí may mắn này từ họ. Cô gái tuổi Mão có thể nói là người hỗ trợ đắc lực các phương diện cho người yêu, nàng có khả năng đem lại vận may, giúp mọi chuyện thuận lợi và mối quan hệ tình cảm cũng luôn êm thấm, suôn sẻ.
![]() |
Cô gái tuổi Hợi
Cô nàng này có vận nhân duyên với người khác phái rất tốt, vì vậy họ cũng dễ dàng tìm thấy tình yêu ở bất cứ đâu. Không những thế, nguồn năng lượng may mắn xung quanh họ còn giúp ích rất nhiều cho người yêu bên cạnh, giúp đối phương dễ dàng vượt qua khó khăn và hai người luôn đồng lòng đồng sức để xây dựng mối quan hệ tình cảm. Không những thế, ngay cả những người bạn khác phái bình thường xung quanh nàng cũng có thể “hưởng lây” vận may từ con giáp này.
Cô gái tuổi Ngọ
Có thể nói cô nàng tuổi Ngọ là một trong những quý nhân gần gũi nhất với người yêu của họ. Ở cạnh nàng, đối phương có sự trợ giúp rất nhiều trong sự nghiệp, có thể đạt thành tựu ngoài mong đợi. Mặt khác, các phương diện khác trong cuộc sống của hai người ũng nhiều thuận lợi hơn, tình cảm đôi bên luôn hòa hợp, gắn bó.
Cô gái tuổi Sửu
Đây là mẫu “hiền thê” điển hình, thế “vượng phu” cực mạnh, nàng có năng lượng tích cực đem đến may mắn cho sự nghiệp của chồng, giúp đối phương an tâm xông pha ngoài xã hội. Đa số có người yêu là cô gái tuổi Sửu, các chàng trai thường cảm nhận được vận thế của mình ngày càng thịnh vượng hơn, thậm chí có lúc còn có lúc thành công ngoài mong đợi.
Khang Ninh (theo QQ)
| ► Khám phá: Tử vi trọn đời của bạn bằng công cụ xem bói tử vi chuẩn xác |
![]() |
| Tử vi tháng 7 âm lịch của người tuổi Sửu |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Tên hay tạo vận tốt cho bé yêu |
Dưới đây là một số tên bạn có thể tham khảo:
An (桉) cây an
Án (案) cái bàn dài
Anh (樱) cây anh đào
Bản, Bổn (本) gốc (cây), tập sách, vở, tiền vốn
Bính (柄) cán, báng, tay cầm, người cầm quyền
Bệ (梐) hàng rào
Bình (枰) ván cờ
Cẩn (槿) cây cận, cây dâm bụt
Châu (株) gốc cây
Cơ (机) công việc, máy móc
Châu, Chu (朱) màu đỏ
Chương (樟) cây long não
Chuẩn (榫) tra ngàm, tra mộng gỗ
Chuyên (椽) cái đòn tay
Cư (椐) cây cư, cây linh thọ
Cữu (桕) cây bồ hòn
Chi (栀) cây dành dành
Cách (格) cách thức
Củng (栱) trụ cột
Di (栘) cây đường lệ (một loại cây trong truyền thuyết)
Diểu (杪) cánh nhỏ
Dũng (桶) cái thùng
Duyên (櫞) cây cẩu duyên
Diêm (檐) mái hiên, mái nhà, vành mũ, diềm mũ
(Theo Life.httpcn.com)
Theo phong thuỷ học phái Bát trạch, 8 phương vị trong nhà ở được chia thành hai nhóm tốt và xấu, tuỳ thuộc vào mệnh quái của người cư ngụ. Đối với những người Đông tứ mệnh (mệnh Khảm, Ly, Chấn, Tốn), nên kê sofa ở các hướng: Bắc, Nam, Đông và Đông Nam. Còn đối với những người Tây tứ mệnh (mệnh Càn, Khôn, Cấn, Đoài), nên kê sofa ở các hướng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây. Bởi lẽ, đó là những hướng tốt, kê sofa tại đó sẽ mang lại sức khoẻ và may mắn cho người sử dụng.
Vấn đề là trong gia đình có cả người mệnh Đông tứ và người mệnh Tây tứ, vậy chọn hướng kê sofa theo thành viên nào? Có quan điểm cho rằng, nên kê sofa theo vị trí tốt của nhiều thành viên hoặc vị trí tốt của người sử dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, vị trí thường được khuyến nghị là kê sofa theo hướng tốt của chủ nhà, người trụ cột trong gia đình, cụ thể là người cha, người chồng.

Đó là nguyên tắc cơ bản trong việc chọn vị trí để kê sofa, nhưng đối với những ngôi nhà có phòng khách được thiết kế ở phương vị tốt thì kê sofa ở vị trí nào trong phòng cũng ít nhiều được hưởng “khí” tốt. Khi đó, nên ưu tiên chọn những vị trí thuận tiện cho sinh hoạt, có tính thẩm mỹ cao để kê sofa, chỉ cần tránh vị trí khiến sofa đối diện với cửa chính, vì “khí” từ ngoài cửa sẽ xung thẳng vào chỗ ngồi. Theo các nhà phong thuỷ, điều này có thể dẫn đến tình trạng người nhà bị phân tán, tài khí phát tán. Trường hợp sofa đối diện với cửa phòng thì không đáng ngại, nhưng nếu đối lưng với cửa phòng thì nên tìm vị trí khác, vì vị trí đó không thuận tiện, không có điểm tựa, tán khí, dễ gặp phải họa tiểu nhân.
Phong thuỷ học cho rằng, phía sau sofa nên có chỗ dựa, tức phía sau sofa nên có tường chắc chắn để dựa vào, giống với nguyên tắc “toạ sơn, hướng thuỷ” (tựa núi, hướng sông) khi xây dựng nhà. Có chỗ dựa là biểu tượng của sự nghiệp ổn định, có tích tụ tiền tài, gia đình yên ổn và có quý nhân giúp đỡ. Mặt khác, xét từ góc độ tâm lý, phía sau sofa trống rỗng có thể khiến con người cảm thấy thiếu an toàn, bị động, do không quan sát được phía sau. Lưu ý, nếu chỗ dựa đó là bức tường nhà vệ sinh, nhà bếp hoặc phía sau sofa là cửa sổ thì cũng nên tránh.
Ngoài ra, có quan điểm cho rằng, không nên đặt sofa ở vị trí sinh tài (tài vị). Nếu cửa mở ở phía bên trái thì tài vị ở góc đối diện bên phải, nếu cửa mở ở phía bên phải thì tài vị ở góc đối diện bên trái, còn cửa mở ở giữa thì hai góc đó là tài vị. Tài vị cần thông thoáng, sạch sẽ, sáng sủa, thích hợp đặt thần tài hay các vật phẩm phong thuỷ như ngọc như ý, thiềm thừ, tỳ hưu, hoặc cây cảnh xanh tươi. Tài vị đặt sofa là không thích hợp, vì sofa là vật dụng to lớn, nặng nề, sẽ khiến tài vị bị áp chế, “sinh khí” khó ngưng tụ.
Tuy nhiên, có quan điểm lại cho rằng, đặt sofa ở vị trí sinh tài thì tài vận sẽ gia tăng, nhất là khi sofa được làm bằng chất liệu có tính dương như gỗ, vải sợi thiên nhiên, đem lại cảm giác thoải mái, dễ chịu cho con người khi tiếp xúc; đồng thời, sofa có màu sắc tươi sáng như vàng tươi, xanh lá, màu bạc, màu mận chín. Đặc biệt, đặt sofa tại đây sẽ khiến cho người thường xuyên ngồi ở đó hấp thụ được tài khí, đạt được hiệu quả chiêu tài, nạp phúc.
Một vị trí khác nên tránh khi kê sofa đó là bên trên có xà ngang hay đèn chiếu thẳng xuống, nếu không thì phải tìm cách hoá giải như đặt trúc khai vận hai bên sofa (hoá giải xà ngang), chuyển hướng chiếu của ánh đèn vào tường.
Khi đã chọn được vị trí thích hợp để kê sofa, trong đó người ngồi quan sát được người ra vào, thì không nên treo gương hoặc đặt các vật có chứa nước phía sau sofa. Gương có ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ khi chiếu vào người ngồi, còn vật có chứa nước (như bể cá) sẽ khiến cho chỗ dựa thiếu tính ổn định, vì tính nước là vô thường.
| Cách xác định mệnh quái Mệnh quái được xác định bởi năm sinh và giới tính. Đối với nam, nếu sinh trước năm 2000 thì mệnh quái được tính bằng cách lấy 100 trừ đi hai số cuối năm sinh, sau đó chia 9, dư 1 là quái Khảm, dư 2 là quái Khôn, dư 3 là quái Chấn, dư 4 là quái Tốn, dư 5 là quái Khôn, dư 6 là quái Càn, dư 7 là quái Đoài, dư 8 là quái Cấn, dư 9 là quái Ly. Nếu sinh từ năm 2000 trở đi, thì số 100 trong công thức nêu trên được thay thế bằng số 99. Đối với nữ, nếu sinh trước năm 2000, thì mệnh quái được tính bằng cách lấy hai số cuối năm sinh cộng 5, sau đó chia 9, số dư là mệnh quái tương ứng như đối với nam, riêng dư 5 là quái Cấn. Trường hợp sinh từ năm 2000 trở đi, thì mệnh quái được tính bằng cách lấy hai số cuối năm sinh cộng 6, sau đó chia 9, số dư là mệnh quái tương ứng. |
(Theo ĐTCK)
Yếu tố làm cho các tiểu hạn trung nhau thành ra khác biệt nhiều là do gốc đại hạn thay đổi, vì khi đoán tiểu hạn điều tiên quyết là phải xét đến đại hạn lúc đó được coi như là một cung Mệnh thứ hai di động có ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt cho tiểu hạn, nhưng ta vẫn không thể quên lãng cung Mệnh khi giải đoán. Để cho được linh động và bớt khô khan tôi tránh việc nêu ra các nguyên tắc và chỉ nêu ra dưới đây nhiều thí dụ điển hình:
- Nếu đại hạn có Liêm Tham hãm địa (tại Tỵ, Hợi) mà tiểu hạn có Địa không, Địa kiếp, Thiên không thì sự nghiệm hoạnh phát, nhất là khi được Địa không, Địa kiếp đắc địa (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) chỉ vì Liêm Tham hãm địa rất cần gặp Không (chính trong cuốn Tử vi đẩu số Tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang cũng có nêu ra điểm này khi bàn đến bộ Sát Phá Liêm Tham hãm tại cung Quan lộc mà quý bạn vô tình không biết áp dụng cho cả đại tiểu hạn).
- Cũng trong trường hợp tiểu hạn trên, nếu gặp Đại hạn có Thiên Phủ hoặc Tử vi thì thực đáng buồn chỉ chờ ngày khuynh gia bại sản hoặc mất chức…nhất là khi có thêm Tuần, Triệt án ngữ (là yếu tố làm lợi thêm cho Liêm Tham hãm), vì Tử Phủ sợ nhất gặp Không Vong và Tuần, Triệt.
- Ngoài ra, ta vẫn phải xét đến Mệnh nữa, vì khi đại tiểu hạn tương hợp với nhau rồi nếu được thêm Mệnh hỗ trợ thêm mới đáng gọi là hanh thông thuận lợi, còn ngược lại vẫn giảm đi nhiều. Tỷ dụ như Mệnh có Vũ Sát tại Mão mà gặp được đại hạn Liêm Tham hãm và tiểu hạn Không Kiếp, Thiên không như trên thì còn gì hay bằng vì tất cả nhóm sao đó tương trợ lẫn nhau chặt chẽ. Còn trường hợp Mệnh có Thiên Phủ (tức là Mệnh ở Dậu) với đại tiểu hạn như trên thì chưa thể hanh thông được hoặc nếu có phát lên mạnh thì đương số cũng đau khổ, bực dọc trong tâm hồn vì nằm trong môi trường trái ngược với tư thế của mình, không khác gì một ông quan tòa mà phải đứng đầu một đảng cướp hoặc một nhóm buôn lậu quốc tế, như thế càng thành công càng thấy lương tâm cắn rứt, mặc dầu bề ngoài thật là thịnh vượng và có uy tín.
Khi Đại hạn có Nhật Nguyệt miếu vượng tại Mão và Hợi mà gặp tiểu hạn có Thiên Không, Thiên Hư và cung nhập hạn lại vô chính diệu thời tiền tài và công danh rất ngon lành, vì Nhật Nguyệt rất ưa cung vô chính diệu để rọi chiếu vào cho sáng sủa nhất là có thêm Thiên Không quét sạch mây mù và có Thiên Hư làm cho bầu trời thăm thẳm thực là đẹp biết bao!
Ngay cả khi có Tuần, Triệt án ngữ cũng vẫn hanh thông vì Nhật, Nguyệt khi chiếu gián tiếp (tức là ở đại hạn ảnh hưởng cho tiểu hạn) không hề sợ Tuần, Triệt mà có khi còn nhờ hai sao nầy làm tăng sự tốt đẹp cho cung vô chính diệu nhập tiểu hạn nữa.
Ngoài ra, dù có thêm Không, Kiếp (bất luận miếu vượng hay hãm) nhập hạn cũng phát đạt như thường vì Không Kiếp không hại gì cho Nhật, Nguyệt. Nhưng với tiểu hạn như trên, nếu đại hạn gặp Thiên Phủ hội Song Lộc thì kết quả ngược hẳn lại, không lụn bại thì cũng không làm sao phát đạt nổi. Gặp trường hợp như thế nhiều người mới học tử vi hẳn phải thắc mắc không hiểu tại sao tiểu hạn trước mình phát mạnh mẽ mà tiểu hạn sau cũng vào cung đó lại xuống đến đất đen, nhất là cứ yên trí đại hạn có Thiên Phủ hội Song Lộc thì tiền để đâu cho hết…
Bây giờ ta lại phải xét đến Mệnh xem có gì mâu thuẫn hoặc thuận lợi cho đại tiểu hạn hay không: nếu trường hợp đầu (tức là đại hạn Nhật Nguyệt và tiểu hạn Thiên không, Thiên Hưu và cung nhập hạn vô chính diệu) mà được cung Mệnh cũng vô chính diệu hoặc có Phá quân cư Thân) thì năm đó rất thuận lợi, vì Phá quân rơi vào hạn có những sao trên không có gì trái ngược, cũng ví như một người liều lĩnh, thủ đoạn dữ dằn gặp được môi trường làm ăn bất chính (như buôn lậu) thì dễ thành công rực rỡ.
Nếu Mệnh có Cơ, Lương hoặc Tử, Phủ thì tuy hợp với Đại hạn Nhật, Nguyệt nhưng lại kỵ tiểu hạn Không Vong, Không Kiếp, Tuần, Triệt cho nên năm đó cũng khó thành công.
-Nếu đại hạn có Xương, Khúc, Khôi, Việt, Quan Phúc, Hóa Khoa, mà tiểu hạn lại gặp Hỏa Linh, Không Kiếp, Tuần, Triệt, Hóa Kỵ, Kình, Đà là ta đã thấy ngay sự mâu thuẫn, trái ngược giữa hai nhóm sao đó vì một bên toàn là sao chủ về văn học, tư cách thông minh, một bên chủ về dữ dằn, phá hoại, ngăn trở, lao động về chân tay, như thế làm sao có thể hanh thông được. Riêng trường hợp này, rất cần phối hợp với Mệnh.
Nếu Mệnh có Liêm Tham hãm địa hoặc có Vũ, Sát hay Cơ, Lương (nhưng 2 cặp sao sau không thuận lợi bằng Liêm Tham vì chúng rất sợ Tuần Triệt) thì năm đó không đáng ngại, cũng ví như người thợ máy tới lúc được bổ túc thêm phần kỹ thuật của mình (tỷ dụ như học thêm một khóa chuyên môn nào đó).
Còn trường hợp Mệnh có Thiên Tướng, Thiên Lương…thì tuy rất hợp với đại hạn đó nhưng tiểu hạn hoàn toàn bất lợi, nếu có đi thi tất rớt, có mưu cầu chức phận gì cũng bị cản trở. Do đó, nếu Mệnh và tiểu hạn tương hợp với nhau rồi phải có Đại hạn làm trung gian kết hợp mới tốt đẹp, cũng ví như người mai mối giữa hai họ nhà trai và nhà gái nếu thân thiết với cả hai bên thì người đó sẽ cố tác thành cho cặp trai gái, còn trường hợp không ưa một bên nào là thế nào cũng gây mâu thuẫn. Xem như vậy quý bạn thấy đoán tiểu hạn quả thực rất uyển chuyển vì phải kết hợp quá nhiều yếu tố.
Qua những thí dụ nêu trên, quý bạn hẳn đã có một khái niệm về sự khác biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau (cùng một cung). Đây mới chỉ căn cứ vào gốc đại hạn chứ chưa xét tới những yếu tố thay đổi khác, mà tôi xin nêu ra dưới đây:
(Xem tiếp phần 2)
Anh Tô Ngọc Hùng (TP.HCM) hỏi: Cửa hàng cơ quan anh có vị trí ở ngã năm đường lớn, rất hạn chế về buôn bán. Nhiều người khuyên nên treo gương bát quái trước cửa để làm ăn tốt hơn. Xin hỏi, điều này có đúng không? Hoặc hóa giải bằng cách nào?
Chuyên gia phong thủy Phạm Cương, Công ty cổ phần Nhà Xuân cho biết: Gương bát quái là một loại gương đặc biệt. Cấu tạo bao gồm gương soi ở tâm điểm và tám quẻ bát quái: Càn, Khảm, Cấn Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài ở xung quanh theo một trật tự nhất định. Theo quan niệm của người xưa, gương bát quái bảo vệ những người sống trong ngôi nhà không bị tà khí xâm phạm.
Khi treo bát quái hướng về ngã ba đường, nóc nhà, những vật trực chiếu hay những hình ảnh xấu về phong thuỷ... thì gương soi ở tâm bát quái sẽ giữ vai trò phản xạ lại các luồng xung sát. Còn tám quẻ có nhiệm vụ hoá giải, chống lại các lực hướng tới. Gương bát quái có hai loại là bát quái lõm và bát quái lồi.
Ngoài ra, nếu diện tích mặt tiền rộng, bạn có thể thiết kế tiểu cảnh nước với cây cối hoặc hòn giả sơn trấn trước cửa vừa để điều tiết các dòng khí vào nhà vừa tạo môi trường cảnh quan hài hòa trong đô thị.
(Theo Vietnamnet)
![]() |
| ► Xem ngày cưới theo Lịch vạn sự chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
Tuổi dậy thì từ lứa tuổi nào ? Có những biểu hiện gì về tâm sinh lý ? "Nữ thập tam nam thập lục". Theo đánh giá của các cụ ngày xưa, gái mười ba trai mười sáu đúng tuổi dậy thì. Trong tuổi phát dục đó, cơ thể lớn nhanh như thổi, chỉ đầu năm đến cuối năm đã biến đổi rất nhiều: má hồng, ngực nở, mông phát triển, nhú âm mao, nam mọc ria mép, một số thì mặt nổi trứng cá, nữ đã hành kinh, có tâm lý e thẹn khi tiếp xúc với người khác giới, ánh mắt tế nhị kín đáo, kể cả tiếp xúc với người thân trong gia đình nhưng khác giới đã bắt đầu có sự ngăn cách. Cả nam và nữ ở tuổi này đã ham làm dáng. Có trường hợp tuổi dậy thì đến sớm hơn hoặc muộn hơn vài năm.
Thời xưa, tảo hôn, có cô gái mười ba tuổi đã bắt đầu sinh nở. Nên chú ý, mặc dù con gái đã có dục tính nhưng giao hợp sớm cơ thể sẽ suy nhược nhanh chóng dẫn tới hậu quả làm cho nòi giống bị suy thoái.
Trai gái giao hợp là thuận theo quy luật điều hoà âm dương nhưng chỉ nên khi nào cả hai bên đều có khoái cảm mạnh. Người đàn bà thường khoái cảm chậm hơn đàn ông, các bạn trai nên chú ý kiên trì chờ đợi, kích dục nhẹ nhàng, đừng để xảy ra tâm lý lo sợ. Một đặc điểm nữa là khoái cảm đàn bà đến chậm hơn nhưng lâu hơn vậy nên có trường hợp người đàn bà chán nản vì người đàn ông không đáp ứng được yêu cầu sinh lý, có khi dẫn tới ngoại tình hoặc ly hôn.
Vì hạnh phúc lâu dài, nhiều khi người đàn ông biết tự kiềm chế. Ví dụ trường hợp vợ chồng xa vắng lâu ngày gặp nhau, gặp phải thời kỳ hành kinh của vợ, có khi người vợ nể chồng phải chiều theo ý chồng nhưng rất có hại đến vệ sinh phụ nữ. Trong trường hợp mới sinh nở cũng vậy.
Người đàn bà có thai gần tới kỳ sinh nở thì chẳng những đàn ông mà đàn bà cũng vậy, phải tự kiềm chế dục cảm, tốt nhất là nên tạm thời dừng lại để bảo vệ cho sản phụ và thai nhi:
Nam nữ thanh niên chưa lấy vợ lấy chồng, hoặc tình duyên không mãn nguyện thường có thói thủ dâm để đạt khoái cảm nhất thời nhưng rất hại cho sức khoẻ lâu dài về sau. Nến biết trước để tránh hậu quả không hay, nhất là đối với nam giới.
Trước lúc động phòng, cả nam và nữ đều phải sạch sẽ, tâm hồn thư thái, kiêng kỵ lúc mới lao động nặng nhọc hoặc mới đi xa về chưa kịp nghỉ ngơi.
Coi việc hiểu biết về những kiến thức vệ sinh giao hợp là cần thiết, vợ, chồng nên nhỏ nhẹ tâm tình, chớ coi đó là chuyện dâm ô.
đó. Phòng ăn trong nhà không cần thiết phải thiết kế thành một gian khép kín, nếu ghép nó với các khu sinh hoạt chung sẽ thuận tiện hơn. Thiết kế và bố trí mặt bằng phòng ăn phải xem xét đến kích thước không gian lưu động cho người sử dụng và kích thước cự ly đến tủ bát, tủ lạnh, bàn ghế, mọi thứ cần được sắp đặt một cách hợp lý nhất, đồng thời cần chú ý đến sự thông thoáng tự nhiên của phần không gian đi qua các khu khác, không làm cản trở hoạt động của các khu khác.
Phòng ăn được bố trí tốt không những tụ tập được tâm sức của mọi thành viên trong gia đình, làm cho mọi người vui vẻ mỗi khi ở phòng ăn, mà còn có tác dụng giao lưu tình cảm tăng cường đoàn kết đối với mọi thành viên trong nhà.

(1) Bố cục và phong cách
Xét về góc độ phong thuỷ, phòng ăn cũng như các phòng khác, bố cục và phong cách phải vuông vắn, không được thiếu góc hoặc lồi ra lõm vào. Bố cục theo hình vuông hay hình chữ nhật là tốt nhất và cũng dễ cho việc bài trí, trang hoàng nhất.
(2) Vị trí
Nhà ở hiện nay phần lớn không tách riêng với phòng khách và phòng ăn. Nếu như phòng khách và phòng ần ghép liền nhau, hướng cùng có hướng tốt hướng xấu. Theo quan điểm phong thuỷ học, hướng Đông Nam được gọi là ‘Thìn Ty hoàng kim thuỷ”, nếu thiết kế phòng ăn theo hướng này, gia vận sẽ được hưng vượng. Nhưng hướng Tây Nam thì lại xấu, vì vậy, không nên để phòng ăn ở hướng này.
Ngoài ra, phòng ăn nên đặt giữa phòng khách và phòng bếp – vị trí trung tâm của nhà. Bố cục như vậy sẽ làm tăng sự hoà hợp giữa mọi người trong nhà. Với nhà tầng, kị nhất là bố trí kiểu phòng ăn tầng dưới, thẳng lên tầng trên là nhà vệ sinh.
(3) Trang hoàng
Năng lượng mọi thành viên trong gia đình có được từ việc ăn uống. Do phòng ăn là khu vực ăn uống nên nó có quan hệ rất lớn đến sự giàu nghèo của gia đình. Để tăng năng lượng hoả hành và tích tụ dương khí, phòng ăn nên trang trí gam màu sáng và phái đủ ánh sáng. Tại phòng ăn bài trí thêm một vài cây xanh sẽ càng làm tăng dương khí và tài phú.
(4) Tránh vị trí hung (xấu)
Phòng ăn nên đặt ở vị trí trung tâm của nhà nhưng không được đối diện với cửa trước hoặc cửa sau. Còn một số bố cục nữa cũng cần phải tránh, ví dụ nếu như thiết kế nhà tầng thì phòng ăn nên ở tầng trên; cửa sổ ở hai mặt tường phòng ăn không được đối diện nhau, vì như vậy khí sẽ vào cửa này và ra ngay cửa kia, không tụ lại, sẽ không có lợi cho vận khí trong nhà. Không dùng không gian gần nhà vệ sinh làm phòng ăn, trường hợp khó tránh thì bàn ăn phải kê thật xa phòng vệ sinh.
(5) Điều hoà âm dương
Bố trí phòng ăn thành không gian cân bằng âm dương, tuy nhiên nên thiên về dương hơn. Để tăng cường dương khí, tốt nhất không được treo bầy các vật như ảnh các bậc tổ tiên hay các đồ dùng gia đình cổ trong phòng ăn. Mặt khác, dương khí quá thịnh sẽ gây bất hoà trong gia đình.
(6) Tránh đặt dưới xà nhà
Gặp trường hợp góc nhà và xà nhà nhọn có thể hoá giải bằng đồ dùng trong nhà và các chậu cây cảnh. Nơi ăn uống tránh thẳng dưới xà nhà, nếu không thể làm khác thì có thể dùng đèn chiếu, làm sao để ánh sáng đèn chiếu thẳng vào xà nhà.
(7) Tạo hình bàn ăn
Hình dạng bàn ăn có ý nghĩa phong thuỷ rất quan trọng. Tốt nhất là dùng bàn ăn hình tròn hoặc hình bầu dục, tránh bàn có góc nhọn. Nếu dùng bàn hình vuông khi ăn nên tránh ngồi ở góc bàn.
(8) Số may mắn (con số hành vận)
Vị trí đặt bàn ăn cùng ảnh hưởng đến vận hạn trong nhà. Các số 6, 8, 9 về lý thuyết đều thuộc các số mang lại may mắn. số người ăn cơm trong nhà là cố định, nhưng khi có tiệc số người ăn được quyết định bởi chủ nhà.
(9) Khéo dùng gương
Bố trí gương ở phòng ăn, khi gương chiếu vào thức ăn trong bàn ăn sẽ có hiệu quả làm tăng tài phú (của cải) trong nhà. Điều này chỉ hợp với những phòng bếp có thể treo được gương ở vị trí nó có thể soi được vào thức ăn trong bàn ăn, các trường hợp khác treo gương trong phòng ăn là không tốt.
(10) Đồ vật may mắn
Phòng ăn thích hợp với tranh, tượng Phúc, Lộc, Thọ. Ngoài ra, tranh hoa quả và thực phẩm cùng mang lại vận tốt. Cam tượng trưng cho sự giàu có, dào tượng trưng cho sức khoẻ và trường thọ, quả lựu trượng trưng cho đông con nhiều cháu.
(11) Dụng cụ ăn uống
Người nước ta thường quen dùng đũa, thìa, môi trong ăn uống, những đồ dùng quá nhọn cần được xếp đặt cẩn thận. Bát dĩa nên chọn dùng loại trên cỏ in những hình ảnh mang lại cát tường như hoa, rồng, con dơi hoặc quả đào.
(12) Lễ nghi
Lúc ăn cơm là thời khắc mọi người trong nhà đoàn tụ, gia đình có êm ấm, hoà thuận thì vận khí trong nhà mới vượng. Trong bữa ăn việc người trẻ phải mời người già ăn trước không chỉ là lễ nghĩa mà còn có ý nghĩa tạo phúc cho người trẻ.
Hướng nhà xấu có nghĩa là hướng nhà và cung mệnh của gia chủ không hợp.
Trên thực tế rất có thể chúng ta đang ở trong ngôi nhà có hướng không hợp với cung mệnh của chúng ta. Nghĩa là cung chúng ta thuộc Tây Tứ Trạch nhưng lại ở trong ngôi nhà có hướng thuộc Đông Tứ Trạch. Thí dụ người thuộc cung Khôn (thuộc tây tứ trạch) nhưng lại có căn nhà có hướng cửa chính quay về hướng Đông Nam (phạm ngũ quỷ).

Hóa giải:
– Nếu gặp phải trường hợp này thì không vì thế mà chúng ta quá lo lắng vì ngoài hướng nhà không tốt thì chúng ta còn có thể hóa giải bằng cách điều chỉnh hướng bếp, hướng cửa phụ, chuyển đổi vị trí cửa chính theo cung vị khác,… cho hợp với cung mệnh của chúng ta.
– Ngoài ra chúng ta còn có thể treo thêm chuông gió hoặc sáo trúc ở trước hiên nhà (Chuông gió hay sáo trúc được áp dụng và sử dụng rất rộng rãi. Nó có tác dụng đón lành tránh dữ, báo động và xua đi những luồng khí dữ, mời chào những luồng khí trong lành dẫn tới ngôi nhà);
– Dùng tấm thảm trải nền có màu hợp với cung bản mệnh đặt phía trong chính giữa cửa chính (Tấm thảm có tác dụng chọn lọc khí tốt trong thiên nhiên tiếp thêm luồng khí lành đó cho ngôi nhà của chúng ta); Lựa chọn màu sắc cho các vật dụng, sơn tường, gạch nền… hợp với cung mệnh của chúng ta; Thiết kế kích thước của cửa chính và các cửa phụ của ngôi nhà theo các số đo tốt của thước lỗ bang…
Đặc biệt là nếu chúng ta luôn biết làm lành lánh dữ, hằng ngày luôn biết niệm Phật tụng kinh thì mọi điều không tốt sẽ dần dần được hóa giải theo chiều hướng tốt đẹp hơn.

Tết cổ truyền 2016 đang đến gần, theo phong tục của người Việt trong 3 ngày Tết việc nấu ăn là điều vô cùng quan trọng giúp mang đến những bữa ăn sum họp đầm ấm và ngon miệng cho cả gia đình. Để công việc này được thực hiện dễ dàng hơn bao giờ hết, chị em có thể tham khảo một chút kinh nghiệm nhỏ của những bà nội trợ lâu năm cóp nhặt được để các mẹ các chị lo Tết được chu toàn.
1. Ngâm măng khô cho mau nở

Dùng nước gạo để ngâm măng rất mau nở và khi nấu lại chóng nhừ. Nếu muốn để lâu, đầu tiên cho măng vào nồi nước đun sôi 30 phút sau đó chuyển sang lửa nhỏ đun tiếp một lát rồi vớt ra, cắt bỏ những chỗ già, rửa sạch. Dùng nước gạo hoặc nước sôi ngâm ăn dần. Cứ 2 - 3 ngày thay nước một lần.
2. Giữ hoa quả tươi lâu
- Cam, chanh, bưởi: Dùng vôi quét lên đầu cuống.
- Dưa chuột: Lấy một cái tô đựng nước, pha chút muối nhạt, cắm phần cuống trái dưa xuống nước ngập độ 1/3 trái dưa, để nơi thoáng mát hoặc ngăn mát của tủ lạnh. Mỗi ngày nhớ thay nước một lần, đảm bảo dưa của bạn sẽ tươi cả tuần.
- Táo, chuối, nấm, lê: Sẽ không biến màu nâu, nếu tưới lên một chút nước chanh.
- Hồng: Ngâm quả trong nước muối trong khoảng 5 phút (không ngâm lâu vì làm biến đổi chất trong quả). Dùng vải mềm rửa sạch phần núm quả vì đây là nơi vi khuẩn, nấm mốc xâm nhập vào quả gây hỏng, thối sớm. Lau khô và gói quả thật kín trong túi nilông và cho vào ngăn mát tủ lạnh khoảng 15 độ C.
- Dưa hấu: Ngâm cả quả vào dung dịch nước muối ăn có nồng độ 15% trong nửa giờ. Lấy ra lau khô vỏ dưa và bỏ vào túi màng polyethyene bảo quản ở nơi mát.
3. Để bánh chưng vẫn xanh sau khi luộc

Sau khi luộc và ép thì bạn tháo bỏ dây lạt ra và gói thêm vào hai lớp lá mới. Bỏ lại vào nồi và nấu thêm một lần nữa nhưng chỉ luộc sơ qua để lá ngoài vừa hơi đổi sang màu xanh dầu. Đem bánh ra ngâm nước lạnh rồi ép nước và ép thật khô lại thêm một lần nữa.
4. Cách rã đông nhanh
Nếu cần phải rã đông gấp, bạn hãy đưa thực phẩm vào lò vi sóng. Cách này rất tốt vì điện trường cao tần sẽ gây nên nội ma sát trong bản thân thực phẩm, khiến thực phẩm nóng lên, tan đông nhưng không làm vỡ tế bào. Nếu không có lò vi sóng hãy dùng nước lạnh pha thêm muối để rã đông cho nhanh.
5. Cách giữ hoa tươi lâu
- Cho vào lọ cắm một ít nước chè nguội.
- Nghiền nát viên aspirin cho vào nửa lít nước, lắc cho tan, cắm hoa vào nước này.
- Cho một ít rượu hoặc bia vào bình nước cắm hoa. Chất cồn trong rượu có thể khử trùng, tiêu diệt vi khuẩn trong lọ hoa đồng thời bổ sung một số thành phần dinh dưỡng khác làm hoa tươi lâu.
Đối với một số loại hoa như đào, mai, bạn có thể áp dụng cách đốt gốc.
6. Bí quyết luộc gà cúng
Cứ mỗi lít nước cho vào 20gr hành tím đã được nướng sơ, lột vỏ ngoài cùng 1 muỗng cà phê muối. Hành sẽ làm thơm nước luộc gà. Cho gà vào lúc nước nguội để da gà không bị nứt vỡ. Sau đó luộc gà trong nước sôi lăn tăn không sủi bọt.
Để tạo cho gà có màu vàng óng, trông ngon mắt, tránh tình trạng luộc xong da bị sạm, xỉn màu thì khi gà vừa chín tới, bạn vớt ra khỏi nước sôi và ngâm ngay vào thau nước sạch, lạnh. Ngâm đến khi nào thịt gà nguội hẳn mới nhấc ra để giữ màu da không bị sậm xuống. Sau đó, để thịt ráo nước một chút, dùng mỡ gà đã thắng quệt một lớp lên da, da gà sẽ có màu vàng bóng và căng mượt.
7. Khử mùi tanh của cá
Dùng nước muối để rửa hay dùng muối hột xát lên cá hoặc ngâm cá đã làm sạch vào nước lạnh có pha ít giấm, hoặc trộn vào cá một ít hạt tiêu hay lá nguyệt quế. Như thế, khi nấu nướng, cá không còn mùi tanh.
Trước khi rán, bạn cho cá vào ngâm cùng một ít sữa bò, như vậy sẽ làm cá hết mùi tanh và tăng thêm độ tươi.
Sau khi làm sạch cá nước ngọt, bạn cho cá vào ngâm với rượu nếp khoảng 10 - 15 phút, sau đó tẩm bột để rán, cá sẽ thơm và hết mùi tanh của bùn.
Ngoài ra, nếu bạn muốn đánh vẩy cá được nhanh, sạch, trước hết, cho cá vào ngâm nước lạnh có pha giấm theo tỉ lệ một lít nước với hai thìa giấm, khoảng hai giờ. Như thế, khi bạn đánh vảy, vảy cá sẽ rơi ra dễ dàng.
8. Khử mùi hôi tủ lạnh
- Lấy 500gr quýt tươi rửa sạch, lau khô và đặt nhiều nơi trong tủ lạnh.
- Cắt chanh thành lát mỏng đặt vào các tầng ở tủ lạnh, mùi hôi sẽ bị hút hết.
- Lấy 50gr chè ướp hao đựng vào túi vải xô cho vào trong tủ lạnh, mùi hôi cũng sẽ được khử hết.
- Lấy ít giấm đựng vào lọ thủy tinh mở nắp đặt trong tủ lạnh, mùi hôi cũng sẽ bay đi.
9. Làm sạch đồ gia dụng
Phích đựng nước dùng lâu cũng thường có cặn bám ruột phích, làm khả năng giữ nhiệt bị giảm. Để tẩy các cặn đó, bạn hãy rót 0,5 l giấm đã đun nóng vào phích, đậy nắp ngâm một lúc rồi đổ đi, rửa sạch, các cặn bám trong phích sẽ bong ra hết.
Để việc rửa chén trở nên dễ dàng hơn, bạn hãy thêm vài muỗng giấm vào nước rửa chén. Giấm sẽ giúp tẩy sạch dầu mỡ nhanh hơn, đồng thời khiến chén đĩa trông sáng và sạch hơn.
Để rửa sạch những vết dơ của đồ ăn trong lò vi sóng, hãy rải một chút muối lên vết dơ khi nó vừa dính lên lò. Đợi đến khi lò nguội, dùng miếng bọt biển ấm chùi sạch.
Để làm sạch những vết ố trên ly, tách hoặc ấm nước, hãy cho vào một ít giấm và đun sôi. Giữ cho giấm sôi nhẹ khoảng 10 phút rồi rửa sạch lại bằng nước sạch.
10. Một vài mẹo vặt khác
- Lột vỏ cà chua: Cắt nhẹ vài đường vào nhiều chỗ trên vỏ, sau đó nhúng sơ cà chua vào nước nóng thì sẽ dễ lột vỏ hơn.
- Hành phi dễ giòn hơn khi rắc lên trên hành một chút đường trước lúc phi.
- Muốn dầu, mỡ không bị bắn ra ngoài khi rán, xào, rắc một ít muối ăn vào mỡ hoặc dầu.
Theo Ngôi sao
Đây là điển cố thứ Bốn chín trong quẻ Quan Thế Âm, mang tên Vương Tường Cầu Lý (còn gọi là Vương Tường Tìm Cá Chép). Quẻ Quan Thế Âm Vương Tường Cầu Lý có bắt nguồn như sau:
Câu chuyện này bắt nguồn từ phần thứ mười tám trong “Nhị thập tứ hiếu”. Thời kỳ Ngụy Tấn, có người tên là Vương Tường, ông nội của Vương Tường là Vương Nhân, từng làm quan lớn ở địa phương, cha là Vương Dung, không muốn ra làm quan.
Khi Vương Tường còn nhỏ, mẹ đẻ qua đời, người cha tái hôn với một người phụ nữ họ Chu. Mẹ kế của Vương Tường là người hẹp hòi lại hay đố kỵ, bà ta không thích Vương Tường, thường vì những chuyện nhỏ nhặt mà trách mắng Vương Tường. Không lâu sau, mẹ kế cũng sinh được một người con trai, tên là Vương Lãm. Người em cùng cha khác mẹ này rất yêu quý anh trai, cậu bé nhìn thấy mẹ đánh anh trai, liền chạy đến ôm anh khóc, không cho mẹ đánh anh nữa. Cho nên, những oan ức mà Vương Tường phải chịu đã có được niềm an ủi rất lớn từ tình cảm anh em này. Cho dù mẹ kế chỉ yêu thương em trai Vương Lãm, coi mình như cái gai trong mắt, lại thường nói xấu mình trước mặt cha, khiến cho người cha cũng dần dần không còn yêu thương mình nữa, nhưng Vương Tường không để trong lòng, vẫn rất hiếu thuận với cha mẹ. Khi cha mẹ bị bệnh, Vương Tường luôn luôn túc trực bên cạnh hầu hạ đến mức không thay áo đi ngủ, hết ngày đến đêm.
Hiếu thuận đối với cha mẹ đẻ của mình là việc mà ai ai cũng có thể làm được, nhưng hiếu thuận cả với một người mẹ kế lòng dạ hẹp hòi, lại là một việc rất khó. Mẹ kế của Vương Tường có sở thích ăn cá tươi mới bắt dưới sông lên. Vào một mùa đông, người cha có việc đi xa, mẹ kế lạỉ bị bệnh, hai anh em Vương Tường, Vương Lãm dù hết lòng hầu hạ, nhưng vì tiết trời giá lạnh, nên bệnh tình của bà vẫn không biến chuyến, khiến hai người rất lo lắng. Người mẹ kế muốn ăn cá tươi, nhưng ngoài trời tuyết rơi trắng xóa, nước dưới sông đã đóng băng dày tự bao giờ, hai anh em không biết làm sao. Vương Tường bèn đi ra ngoài, chỉ thấy mặt sông kết băng cứng từ lâu, không thấy bóng dáng của con cá nào. Vương Tường bèn nghĩ ra một cách, không quản lạnh giá, liền cởi áo ra, để người trần nằm trên sông băng, muốn dùng hơi ấm của cơ thể làm tan băng giá. Cậu nhìn lên trời cầu xin: “ông trời ơi, mẹ tôi đang bị bệnh, muốn ăn cá chép, xin ông hãy giúp tôi!” Bất ngờ, khối băng ở bên cạnh Vương Tường bỗng nứt ra một khe hở, hai con cá chép nhảy vụt lên, quẫy mình trên mặt băng. Vương Tường hết sức vui mừng, vội vàng quỳ xuống, cảm tạ trời cao, rồi vội vàng mang cá chép về nhà. Người mẹ nằm trên giường bệnh, nhìn thấy Vương Tường ờ trần, người lạnh đến tím tái, tay xách hai con cá chép mừng rỡ chạy vào nhà, thì lặng người đi. Đứa em trai vội vàng chạy đến, giúp anh xách cá, mặc quần áo. Sau khi ăn xong món cá chép tươi, bệnh tình của mẹ kế Vương Tường nhanh chóng thuyên giảm.
Sau này Vương Tường được thăng quan phong tước, làm đến chức Thái bảo, được phong tước Công, nhận đặc quyền không phải vào chầu. Ông sống thọ đến chín mươi tư tuổi. Trong thời gian Vương Tường làm quan, ông rất rất mẫn cán chuyên cần, nổi tiếng đức cao vọng trọng.
Vương Tường và người em trai Vương Lãm, một người được khen ngợi vì đức “hiếu”, một người được hiển danh vì đức “đễ” (anh em hòa thuận), trở thành chuẩn mực về gia đình “hiếu đễ”. Đây là nguyên nhân khiến dòng họ Vương ở vùng Lâm Nghi, Lang Tà được gọi là “Hiếu cảm Vương”.
Xem bói Quẻ Quan Thế Âm Vương Tường Cầu Lý là quẻ thẻ Trung Bình trong quẻ thẻ quan âm, là quẻ số 49 !
Quẻ này là tượng nước tụ thành băng.
Những việc mong cầu không nên uổng phí công sức đi tìm kiếm.
- Thiên đình (Trán):
Vầng trán vuông là đặc điểm thường gặp ở nam giới. Chủ nhân của dạng trán này thường sống rất thực tế, thận trọng trong công việc. Họ là người rất kiên trì, có ý chí phấn đấu không mệt mỏi.
Nam giới có tướng trán này thường ít thành công ở giai đoạn đầu đời. Họ cần phấn đấu nhiều để có thể xây dựng sự nghiệp vững chắc.
Đa số người trán vuông có khuynh hướng trở thành thương nhân. Cũng có 1 số người dễ đạt được thành công trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nhờ vào năng lực và sự kiên trì của bản thân.
Trán vuông không phải là tướng lý tốt đối với nữ giới. Nếu như vầng trán của họ lại bị biến dạng bởi các vết sẹo hay các tỳ vết khác thì độ xấu càng tăng. Họ thường gặp nhiều rắc rối, thậm chí là bất hạnh trong đời sống hôn nhân.
Thiên đình cao rộng, mũi thẳng, ngũ nhạc hướng vào nhau. Thiên đình là cung vị của sự nghiệp. Người có thiên đình cao rộng, đầy đặn là người có khả năng phân tích tốt, làm việc có kế hoạch, sự nghiệp thuận lợi. Người có ngũ nhạc (trán, mũi, cằm và 2 gò má) đầy đặn, hài hòa là người có phúc tướng, sự nghiệp ổn định. Họ chính là chỗ dựa vững chắc cho nhân viên.
- Sơn Căn (khoảng cách ở giữa 2 đầu mắt) cao, màu sắc sáng sủa; sống mũi cao, chóp mũi tròn, 2 cánh mũi phải đầy đặn; chân mày hướng đến tóc mai là người có chí lớn, tài vận tốt. Nếu nam giới có đầu mũi nhọn, xương xẩu là người rất khắt khe, thường hay trách cứ vợ con; chặt chẽ trong chi tiêu. Nếu xương sống mũi lộ ra thì càng khắc vợ.
- Gian Môn (phía trên đuôi mắt) bằng phẳng, đầy đặn, không có nếp nhăn xung phá là tướng tốt, được sự hậu thuẫn đắc lực của người vợ. Nếu bộ phận này lõm vào thì duyên phận vợ chồng có thể bị tổn hại, khắc với vợ, không thể sống với một vợ đến già mà sẽ có nhiều lần kết hôn. Vị trí này dù không lõm nhưng lại có nốt ruồi hoặc có quá nhiều nếp nhăn nơi đuôi mắt kéo dài ra tận cung Phu Thê (phần nằm ở đuôi lông mày và đuôi mắt kéo dài đến chân tóc mai) thì có ảnh hưởng không tốt đến vợ.
- Nhãn thần (Mắt) đoan chính, thần thái thanh thoát nhưng phải có vẻ uy nghiêm, tròng trắng và tròng đen rõ ràng, phân minh. Ông chủ có nét tướng này là người thông minh, sức khỏe tốt; có tấm lòng lương thiện, biết phân biệt phải trái.
Nhiều người Hoa khi đánh giá bất kỳ đối tác làm ăn nào, xem mắt là quan trọng đầu tiên.
Nên chọn người mắt sáng (sáng trong, sáng xanh), lòng đen trắng rõ ràng, lòng đen nhiều hơn lòng trắng, tướng mắt cân đối: đây là một phần của tướng người quân tử, thông minh, chính trực.
Người mắt nâu thường lãng mạn, đa cảm, có khiếu nghệ thuật hơn người mắt đen (ít người đàn ông mắt nâu).
Nên tránh người mắt trái to hơn mắt phải. Ðây là tướng người ít nhiều gia trưởng.
Người mắt tam giác là người nhiều mưu mô, tâm tính không hiền lành. Tướng này không phải là người chồng tốt.
Người mắt to quá cũng thường không hay, vì người này thường mơ mộng, thiếu năng lực thực tế. Họ hợp với nghệ thuật hơn.

Người có mắt đẹp điển hình là Quan Vân Trường của Trung Quốc, đó là tướng mắt phượng mày ngài. Người đàn ông nào có được tướng mắt ít nhiều như vậy cũng là quý tướng rồi. Người như thế quan lộc, công danh sự nghiệp rất tốt, lại thêm tính thủy chung, son sắt.
Mắt tam bạch đản hoặc tứ bạch đản (là trường hợp nhãn cầu chỉ chạm vào một mí mắt, hoặc thậm chỉ không chạm mí nào cả trên cả dưới – kết quả là để lộ ra 3 đến 4 phần trắng trong cả con mắt): Ðây là tướng người vất vả, hung khí thậm chí đến tù tội, chết oan khuất. Các chị em bạn gái chọn người này nên cân nhắc thật kỹ và xem xét thêm các bộ vị khác.

Mắt “phù quang”: Ánh mắt lúc nào cũng sáng đều đều nhưng theo dạng đục đục, vui buồn không thấy biểu hiện trên ánh mắt. Ðây là tướng người lạnh lùng đến tàn nhẫn.
- Sống mũi không quá cao, chóp mũi không quá nhọn. Nếu người có mũi cao và đường sống mũi bị lộ thì sự nghiệp gặp nhiều trở ngại, khó có được sự ủng hộ của người cấp dưới. Người có chóp mũi nhọn và không đầy đặn thường kiêu ngạo, hay chỉ trích người khác sau lưng. Họ cũng rất chi li, tính toán về mặt lợi ích với cấp dưới.
- Chóp mũi tròn, đầy đặn; địa các (cằm) tròn trịa. Đây là ông chủ rộng rãi, tốt bụng, đáng tin cậy và luôn thân thiện với nhân viên. Họ giỏi giao tiếp và luôn đánh giá, nhìn nhận về con người, công việc một cách công bằng, phân minh.
- Địa Các (cằm): đầy đặn, bằng phẳng, vuông tròn là lý tưởng. Địa Các cho biết vận mệnh cuối đời; thể hiện quan niệm, thái độ, tình cảm của một người đối với gia đình. Nếu nam giới có cằm như trên là coi trọng cuộc sống gia đình. Trái lại, người có cằm nhọn thường không thích gò bó trong vai trò của một người chồng, do đó tình cảm vợ chồng vì thế cũng bị ảnh hưởng, cuộc sống gia đình không xuôi chèo mát mái.
- Eo tròn, lưng dày, vai bằng, rộng, ngực bụng cân đối thường là người có phúc tướng. Người này có nhiều phúc lộc, có thể gánh vác trọng trách trong gia đình và ngoài xã hội. Ngược lại, nếu nam giới có vai nhọn, cao là người có sức khỏe yếu, cuộc sống vất vả, bụng dạ hẹp hòi và nóng nảy.
- Diện mạo ôn hòa, nói năng nhã nhặn, giỏi kiềm chế; khi nói thì hướng đầu lên trên, không cúi gập đầu xuống. Đây là ông chủ có trình độ, khiêm nhường, biết trước biết sau, biết nghĩ đến quyền lợi của nhân viên.
Nguồn: Xem tướng số đàn ông
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| => ## cung cấp công cụ tra cứu ngày sinh con năm 2016 đẹp nhất và hợp tuổi bố mẹ |