Tướng người xấu –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Bích Ngọc (##)
Thuộc tính ngũ hành của sao Thái âm là âm thủy, là cát tinh trong chòm Trung Thiên Đẩu, là tinh túy của nước, hóa khí là phú, chủ cung Điền trạch. Tiền tài của Thái âm có được do tích lũy từng bước, khiến cho tình hình tài chính luôn luôn được ổn định.
Sao Thái âm và sao Thái đương đều là chủ nhân của bầu trời, cai quản đêm và ngày, đồng thời cũng chưởng quản giầu có và sang trọng. Trong lá số, mức độ sáng của sao Thái âm sẽ thay đổi tùy theo từng giờ, nên tại Dậu, Tuất, Hợi, Tý, là "đắc viên", tại Mão, Thìn, Tị, Ngọ, là "hãm địa", tại Dần và Thân là nơi mọc và lặn của sao Thái âm.
Sao Thái dương chủ về sớm thành công, sao Thái âm chủ về thành tựu muộn. Sao Thái âm chia thành thượng huyền và hạ huyền, thượng huyền là cơ yếu, hạ huyền là giảm uy. Theo lịch âm, mồng 1 là tối tăm, đến chừng mồng 7 ~ 8 là thượng huyền, trăng tròn dần, đến ngày 15 là rằm, trăng tròn và sáng. Sau đó, trăng tối và khuyết dần, đến chừng 22 ~ 23 là hạ huyền. Sao Thái âm cát lợi nhất cho người sinh vào tiết Trung thu tháng 8, thứ đến là người sinh vào ngày rằm hàng tháng. Nếu sinh vào thượng huyền, thì sao Thái âm nằm vào cung nào, sự việc thuộc cung đấy sẽ dần dần trở nên tốt đẹp. Nếu sinh vào hạ huyền, thì sao Thái âm nằm vào cung nào, sự việc thuộc cung đấy sẽ dần xấu đi.
Nếu sao Thái âm cùng những sát tinh như Cự môn, Kình dương, Liêm trinh, Thất sát, đồng cung hoặc gia hội, sẽ tạo thành tổ hợp bất lợi, phải chịu thương tàn, nhưng nếu theo nghiệp tăng đạo lại sẽ gặp cát lợi. Sao Thái âm rơi vào hãm địa, lại gặp sát tinh, chủ về lộc có lỗ hổng, tiền của đến rồi lại đi, một đời vất vả, tốt nhất là xa quê tìm cơ hội phát triển. Dễ gặp vạ vì tiền của, họa huyết quang, phải mổ xẻ phẫu thuật.
Sao Thái âm ưa gặp tam hóa Lộc Quyền Khoa, để có tác dụng bổ trợ cho chính mình. Thái âm gặp Lộc tồn, Hóa Lộc sẽ tăng vẻ sáng, sở hữu nguồn sinh lực dồi dào không cạn. Thái âm gặp Hóa Khoa, nhờ tiền tài mà được nổi danh. Thái âm nếu tại Hợi sẽ không sợ sao Hóa Kị, được gọi là biến cảnh, gặp sự biến đổi lại thành ra có lợi. Người sinh năm Canh không sợ sao Thái âm Hóa Kị vì đã gặp sao Thái dương Hóa Lộc. Nếu sao Thái âm và Thái dương đồng cung hoặc hội chiếu lẫn nhau, có thể dùng Lộc của sao Thái dương để khống chế Kị của sao Thái âm, mức độ tổn hại sẽ được giảm bớt. Nếu sao Thái âm lạc hãm mà Hóa Kị, do bản thân không còn ánh sáng, nên không có nguy hiểm gì đáng kể.
Sao Thái âm ưa thích gặp sáu cát tinh Tả phụ, Hữu bật, Thiên khôi, Thiên việt, Văn xương, Văn khúc và Lộc tồn. Nếu rơi vào cung miếu, vượng mà gặp Địa không, Địa kiếp, tuy bất lợi cho tiền tài, nhưng không ảnh hưởng đến khoa danh.
Sao Thái âm - mặt Trăng, chuyển động quanh mặt trời liên tục không ngừng nghỉ, nên cũng chủ về bôn ba vất vả, đặc biệt mệnh càng trở nên vất vả một cách rõ nét, đó là khi rơi vào bốn cung Mã (Dần Thân Tị Hợi). Nếu nằm đồng cung với sao Thiên cơ cũng mang tính lưu động, dễ lưu lạc tha hương, tìm đường phát triển tại nơi đất khách.
Tiền tài của sao Thái âm thu nhập một cách cố định, thường có cơ hội là nhiều nghề, nên cũng là tiền của có được do tích lũy dần dần, mà không phải phát tài đột ngột.
Nếu sao Thiên phủ, hoặc hai sao Vũ khúc và Tham lang trấn thủ cung mệnh, và đóng tại Sửu hoặc Mùi, sao Thái âm và Thái dương kèm ở hai cung bên cạnh, hình thành cách "Nhật Nguyệt giáp mệnh", chủ về một đời giầu có.
Nếu sao Thái âm nhập miếu, trấn thủ mệnh tại Hợi, lại sinh vào ban đêm, là cách "Nguyệt lãng thiên môn" (trăng sáng cổng trời), chủ về sẽ được giầu sang.
Cung mệnh an tại Mùi, sao Thái dương tại Mão, sao Thái âm tại Hợi nhập miếu giao hội lai chiếu, là cách "Minh châu xuất hải" (ngọc sáng rời mặt biển), chủ về đường công danh rộng mở.
Cung mệnh an tại Sửu, Mùi, sao Thái âm và Thái dương tam hội, vương mà hội chiếu. Hoặc, sao Thái dương ở Thìn, Tị, sao Thái âm tại Tuất, Dậu,, vượng mà trấn mệnh lại hội chiếu lẫn nhau, là cách "Nhật Nguyệt tịnh minh" (mặt trăng mặt trời cùng sáng), chủ về sớm được đắc ý.
Sao Thái âm, Thái dương đồng cung tại Sửu, Mùi, trấn mệnh hoặc chiếu về cung mệnh, là cách"Nhật Nguyệt đồng lâm" (mặt trăng mặt trời cùng đến), chủ về đường quan vận được nhiều lợi thế.
Thái dương, Thái âm trấn cung Điền trạch tại Sửu, Mùi, hoặc nằm tại Thìn và Tuất chiếu về cung Điền trạch, là cách "Nhật Nguyệt chiếu bích" (mặt trăng mặt trời soi vách), chủ về là mệnh phú hào.
Sao Thái âm và Thiên đồng trấn mệnh tại Tý hoặc trấn Điền trạch, là cách "Nguyệt sinh thương hải" (trăng mọc biển xanh, hay còn gọi là "Thủy trừng quế ngạc" - nước trong hiện cành quế), chủ về được chức quan cao quý.
Các sao Thien cơ, Thái âm, Thiên đồng, Thiên lương tập hợp tại ba cung Mệnh, Tài, Quan, là cách "Cơ Nguyệt Đồng Lương", có lợi trong các lĩnh vực văn hóa giáo dục, truyền thông đại chúng.
Sao Thái âm và Văn khúc cùng đóng tại Phu thê, sao Thái âm miếu vượng, lại gặp cát tinh, là cách "Thiềm cung triết quế", chủ về nam mệnh thường gặp vợ sang, nữ mệnh thường sinh quý tử.
Cung mệnh an tại Thìn, Mão, sao Thái âm lạc hãm trấn mệnh, sao Thái dương lạc hãm trấn Thiên di. Hoặc cung mệnh an tại Tuất, Hợi, có Thái dương trấn thủ, sao Thái âm lạc hãm cư Thiên di, là cách "Nhật Nguyệt phản bội" (mặt trăng mặt trời quay lưng), chủ về mệnh vất vả lao lực.
Sao Thái âm, Thiên đồng, lạc hãm trấn mệnh tại Ngọ, lại gặp sát tinh, là cách "Nguyệt Đồng ngộ sát", chủ về mọi việc đều không thuận lợi.
Sao Thái dương, Thái âm lạc hãm, trấn thủ cung Tật ách, là cách "Nhật Nguyệt tật ách", chủ về cơ thể có khuyết tật.
Sao Thái âm trấn mệnh tại Thìn, sao Thiên lương tại Thân địa lạc hãm hội chiếu. Hoặc sao Thiên lương lạc hãm trấn mệnh tại cung Thân địa, sao Thái âm cư Thìn cũng lạc hãm hội chiếu, Tài Mệnh hội chiếu, là cách "Thiên lương củng nguyệt" (Thiên lương chầu về mặt trăng), chủ về một đời nhiều biến động, phiêu bạt tha hương, hoặc mất mạng vì tửu sắc, hoặc phá gia bại sản.
SAO THÁI ÂM TỌA THỦ CUNG MỆNH
Dung mạo và tính cách
Người có sao Thái âm tọa thủ ở cung mệnh, mặt vuông tròn trắng hồng, mày thành mắt tú, ngũ quan đoan chính, đoan trang, cử chỉ, lời nói, hành động ưu nhã rất hấp dẫn.
Thông minh dịu dàng, lãng mạn đa tình, độ lượng khoan dung, bác học đa tài, cẩn trọng chính trực, cá tính hướng nội, biết tính toán, khả năng lý giải tốt, nhưng ít quan sát, có sự nhẫn nại, hay nghi ngờ, thiếu tình cảm, thích sạch sẽ.
Người sinh vào ngày Trăng sáng thì vui vẻ an nhàn, thích hưởng thụ, chú trọng và đề cao thi vị của cuộc sống, thích nghiên cứu tự do, có duyên với người khác giới, có tài năng bẩm sinh về văn học nghệ thuật.
Người sinh vào ngày Trăng mờ thì tính nhát gan, lười biếng, thích sạch sẽ nhưng lực bất tòng tâm, dễ bị đắm chìm vào ảo tưởng, tình cảm không rộng mở, có thể là nhà nghệ thuật có phong cách đặc biệt, tư tưởng tự do phóng khoáng, khó hiểu.
Mệnh nữ da trắng mịn, mắt ướt nữ tính, tính trẻ con đa tình mà dịu dàng, rất coi trọng hình thức bề ngoài, có tài nghệ thuật nên lãng mạn.
Ngọt ngào thân thiện, lương thiện nhưng thiếu chủ kiến. Trong lòng có chuyện gì thì sẽ nói ra, dễ bị chi phối bởi mọi người. Sau khi kết hôn, nếu cuộc sống đơn điệu, thì thường tỏ thái độ bất mãn, tâm lý và khả năng chịu đựng suy giảm. Thích thay đổi, thích trang trí nội thất, thích đi du lịch.
Suy đoán mệnh lý
| Thái âm – 2 |
Thái âm – 1 Thiên đồng – 2 |
Thái âm – 1 Thái dương + 2 |
Thái âm + 1 Thiên cơ + 2 |
| Thái âm – 2 |
Thái âm + 3 |
||
| Thái âm – 2 |
Thái âm + 3 |
||
| Thái âm + 3 Thiên cơ + 2 |
Thái âm + 4 Thái dương – 1 |
Thái âm + 4 Thiên đồng + 3 |
Thái âm + 4 |
Độ sáng của sao Thái âm tọa thủ 12 cung
Chữ số trong bảng biểu thị độ sáng của sao Thái âm. Mối quan hệ của chúng như sau:
- Miếu = + 4
- Vượng = + 3
- Địa = + 2
- Lợi = + 1
- Bình hòa = 0
- Không đắc địa = - 1
- Hãm địa = - 2
Sao Thái âm chủ về Phú, phần lớn có thêm chủ về Quý, chủ về Tài bạch và Điền trạch. Trong mệnh bàn, ánh sáng của sao Thái âm có sự thay đổi tùy theo sự thay đổi của thời gian, ở Mão Thìn Tị là hãm địa, ánh sáng tối nhất. Ở Ngọ Mùi là không được thế địa, lượng ánh sáng tối thứ hai. Ở cung Thân thế lợi, ánh sáng vừa phải. Ở cung Dậu Tuất thế vượng là ánh sáng mạnh thứ hai. Ở Hợi Tý Sửu là thế miếu, có lượng ánh sáng mạnh nhất.
Sao Thái âm ở Dần, tượng trưng cho mặt Trăng vào giờ Dần, là điểm thấp nhất của mặt Trăng. Sao Thái âm ở Thân tượng trưng cho mặt trăng vào giờ Thân, là điểm cao nhất của mặt Trăng.
Sao Thái âm tượng trưng cho tính âm, đại diện cho mẹ. Do đó, bất luận là mệnh nam hay nữ, khi mẹ còn sống, sao Thái âm trong cung mệnh có thể dùng để luận đoán cát hung của mẹ. Sau khi mẹ qua đời, sao Thái âm của mệnh nữ đại diện cho bản thân, Mệnh nam đại diện cho Vợ, sau khi Vợ qua đời thì sao Thái âm của cung Mệnh đại diện cho con gái. Do đó, muốn đoán cát hung của mẹ, vợ, con gái thì lấy sao Thái âm làm căn cứ.
Trong Tử Vi Đẩu Số, tất cả các sao chủ đứng đầu, như Tử vi của hệ sao Bắc Đẩu, sao Thiên phủ trong hệ sao Nam Đẩu, sao Thái âm và Thái dương chủ về âm dương, đêm ngày trong hệ sao Trung Thiên Đẩu, nếu độc tọa tại cung Mệnh thì phần lớn chủ về cô độc và đều lấy thời thơ ấu làm chủ đạo.
Do đó, người có sao Thái âm tọa thủ cung Mệnh, thì mẹnh nam nữ đều chủ về cha mẹ hoặc vợ chồng, hoặc con cái, có hiện tượng tình thân không đủ, gần nhau ít xa nhau nhiều, hoặc sinh ly tử biệt, hoặc tình cảm bất hòa, hoặc ít trao đổi, hoặc sức khỏe thường xuyên không tốt, hoặc sự nghiệp hay bị thất bại. Nếu sao Thái âm ở cung mệnh hãm địa lại gặp sao Hóa Kị, thì mệnh nữ sẽ bất lợi cho bản thân, còn mệnh nam sẽ bất lợi cho vợ và con gái (tuế quân năm Ất)
Nhật Nguyệt là sao chủ về âm dương và ngày đêm, thuộc Trung Thiên Đẩu, mặt Trăng liên tục quay quanh trái đất không ngừng nghỉ, do đó sao Thái âm chủ về Dịch mã (ngựa đưa tin chiến trường), đại diện cho sự vất vả bôn ba, đặc biệt khi Thái âm tọa ở chỗ tứ Mã (Dần Thân Tị Hợi), khi đồng cung với sao Thiên cơ thì không thích bị bó buộc quản thúc, thích cuộc sống tự do tự tại, dễ phiêu bạt tha hương, có mưu cầu phát triển ở tha hương.
Mặt Trăng phân thành trăng Thượng huyền và trăng Hạ huyền. Trăng Thượng huyền - khoảng mồng 7 ~ 8 âm lịch, có cung Trăng hướng lên trên, bởi vì ngày mồng 1 đầu Tháng đến ngày 15 giữa Tháng, thì mặt Trăng ngày càng trong hơn, do đó, người sinh vào Thượng huyền, thì vận thế từ xấu chuyển sang tốt. Trăng Hạ huyền - khoảng ngày 22 ~ 23 âm lịch, thì mặt Trăng từ tròn chuyển sang khuyết dần, do đó, người sinh vào Hạ huyền có vận thế từ tốt chuyển sang xấu. Sao Thái âm tọa ở cung Mệnh thì nên sinh vào giữa tháng, sinh vào ban đêm, ngày Thượng huyền, Trung thu, rất kị sinh vào lúc mặt Trăng mất đi ánh sáng.
Sao Thái âm chủ về "kho lộc", vật chất trong cả cuộc đời nhiều, đầy đủ về tinh thần, tuy không chú ý đến tiền tài, nhưng lại nhận thức và hiểu được cách dùng tiền tài. Tiền tài là do tích lũy dần dần, tuyệt đối không phải là do của cải đến bất ngờ.
Sao Thái âm, sao Vũ khúc, sao Thiên phủ, đều là tài tinh, nhưng lại có sự khác biệt:
Tiền tài của sao Vũ khúc là do lập nghiệp mà có. Tiền tài của sao Thiên phủ là do đầu tư tích lũy mà có. Tiền tài của sao Thái âm là do làm việc cần kiệm gom góp mà có.
Sao Thái âm và sao Thiên phủ đều chủ về ruộng vườn, nhưng hàm nghĩa ruộng vườn của sao Thiên phủ là đầu tư, còn hàm nghĩa ruộng vườn của sao Thái âm là coi trọng thực dụng.
Mặt trời ban ngày chiếu sáng, mặt Trăng ban đêm khúc xạ ánh sáng của mặt Trời, mang đến ánh sáng, mang đến hy vọng, mang đến sự viện trợ, mang đến sự phối hợp, cũng giống như vai trò của người Mẹ trong gia đình. Do đó, sao Thái âm thích hợp với các công việc như hộ lý, giáo dục, thư ký, văn nghệ, văn hóa xã hội,...
Sao Thái dương và sao Thái âm vốn có sinh mệnh và mang đến sinh mệnh cho các sao khác trong mệnh bàn. Phương thức phát huy của chúng có những đặc điểm sau:
1- Ánh sáng của sao Thái dương đến từ sao Thái dương nóng bỏng mà khúc xạ ánh sáng và nhiệt của sao Thái dương, chuyển hóa thành ánh sáng nhân từ và điềm đạm chiếu xuống nhân gian. Sao Thái dương là tích cực và nhiệt tình cung cấp ánh sáng và sự ấm áp trực tiếp. Sao Thái âm dùng phương thức uyển chuyển, mềm mại, cung cấp sự viện trợ và hy vọng gián tiếp.
2- Sao Thái dương có nhiệt độ, có sự phân biệt mạnh và yếu. Sao Thái âm thì nhiệt độ không thay đổi, trong đêm tối ban tặng cho con người sự bình tĩnh và ấm áp.
3- Sao Thái dương bất luận là sáng, tối, lạnh, nóng, vẫn luôn luôn chiếu xuống mặt đất. Sao Thái âm thì phân biệt sáng, tối, tròn, khuyết. sóc, vọng, cũng do đó và từ đây, mà sinh ra bi, hoan, ly, hợp trong nhân gian.
Người có sao Thái âm thủ Mệnh, thường có những hiện tượng:
1. Sao Thái âm giống như sao Thái dương, tự nhiên, chủ động giúp đỡ người già, yếu, cô độc bất hạnh mà không cần báo đáp. Nhưng sao Thái dương đều dùng tiền, dùng chủ ý, dùng phương thức giúp đỡ tổng thể để sắp xếp, giúp đỡ. Sao Thái âm phần lớn là chia sẻ tinh thần, như an ủi, tỏ thái độ quan tâm ân cần, chăm sóc nhân từ trực tiếp từ những chi tiết nhỏ trong cuộc sống, khiến mọi người tin tưởng.
2. Rất tự nhiên trong công việc phúc lợi xã hội, hoặc các việc từ thiện, hy vọng nhận được sự báo đáp từ xã hội.
3. Có sự huy hoàng của người Mẹ, thích cố thủ bên trong, coi trọng sự thi vị của cuộc sống, coi trọng công việc gia đình, mệnh nữ thường giỏi việc nhà.
4. Thường làm những việc cần viện trợ và cần sự phối hợp, công việc làm ban đêm hoặc thay ca như y tá, phù hợp với tính chất công việc ban đêm của sao Thái âm.
5. Người có sao Thái âm thủ Mệnh, có đặc tính nữ tính, như bình tĩnh, tinh tế, dịu dàng, nhẫn nại, lạc quan. Thời gian rèn luyện tích tụ được tố chất kiên định, trầm tĩnh, kiên nhẫn, bên ngoài tuy lạnh lùng nhưng bên trong nội tâm nhiệt tình, lương thiện. Đối với những sự việc không được như ý trong cuộc đời, thì nó trực tiếp phản ánh sự nhẫn nại, không tích cực tranh đấu, hoặc biểu thị bộc lộ ý kiến, nội tâm thường hướng đến sự an phận, nhưng bản năng của sao Thái âm là gián tiếp, phối hợp, mọi việc mà nóng vội thì thường không thành.
Bất cứ cung vị nào có sao Thái âm, đều sẽ khiến cho con người số thủ bên trong, có thể hiểu được sự cần thiết phải bình tĩnh và duy trì trạng thái cân bằng, sau đó là kéo theo sự chuyển hóa ở bên ngoài, vào thời khắc chuyển hóa chính là bắt đầu của sao Thái dương - kết thúc của sao Thái âm.
Người có sao Thái âm thủ Mệnh, nên có thói quen đọc sách trong thời gian dài, làm công việc có tính chất nghiên cứu lâu dài, phần lớn cần có sự trao đổi phối hợp với mọi người, để giảm hiện tượng thiếu thốn tinh thần, đồng thời dễ chịu ảnh hưởng từ những tác động thị phi, bị bạn bè hay tiểu nhân lừa lọc, hạn chế ăn uống thái quá để giữ gìn thân thể khỏe mạnh, thì mới có thể tránh được hung mà đón cát lợi.
Sao Thái âm ưa thích hội ngộ những sao hóa Cát, bất luận là Hóa Lộc, Hóa Khoa, Hóa Quyền, đều làm tăng thêm ánh sáng cho Thái âm. Gặp Hóa Lộc hay Lộc tồn, chủ về cả đời có tiền tài dùng không hết. Thái âm gặp Hóa Quyền có thể lập nghiệp, nắm quyền. Thái âm gặp Hóa Khoa có thể nhờ tài mà được danh.
Các sinh vật trên trái đất thiếu mặt Trăng có thể sinh tồn, nhưng thiếu mặt Trời thì khó mà sinh tồn. Do đó, bất luận là mệnh nam hay nữ, khi sao Thái âm ở cung mệnh Hóa Kị, nếu có thể biết dùng Hóa Lộc của sao Thái dương để trợ giúp, thì đều có thể giảm nhẹ tổn hại.
Tại Hợi, sao Thái âm là "Nguyệt lãng thiên môn", không sợ sao Hóa Kị, ngược lại có tác dụng thay đổi hoàn cảnh. Sao Thái âm hãm địa Hóa Kị, do bản thân không có ánh sáng, nên không thể tạo thành sự uy hiếp quá lớn. (Sao Thái âm tại Thân thì gọi là "Nguyệt lãng quỷ môn", tại Tị thì gọi là "Nguyệt lãng địa môn", tại Dần thì gọi là "Nguyệt lãng nhân môn", tại Mão thì gọi là "Nguyệt lãng lôi môn" - là tượng Nguyệt nhập Ngũ môn).
Sao Thái âm thích gặp lục Cát tinh, gặp Tả phụ Hữu bật chủ về có phúc có phận. Gặp Văn xương, Văn khúc chủ về người nhiều văn nghệ có tài hoa. Gặp Thiên khôi, Thiên việt chủ về người có quý nhân, có thể đảm nhận việc nơi công môn, bình an thuận lợi.
Sao Thái âm không thích gặp lúc Sát tinh, chủ về trắc trở. Hãm địa gặp tứ sát Dương Đà Hỏa Linh, sợ rằng có thương tật cơ thể. Thái âm ở cung miếu, vượng thì không sợ sao Địa không, tuy tiền tài có bất lợi nhưng không bị ảnh hưởng đến công danh. Sao Thái âm kị nhất khi đồng cung với Kình dương, Đà la, nhất định có ly biệt, phá sản. Sao Thái âm hãm địa lại gặp Sát tinh, chứng tỏ kho lộc thiếu cửa, tiền của đến rồi lại đi, đời nhiều lao lực, phát triển ở xa quê hương thì đỡ đi phần nào, khi trao đổi tiền tài với bạn bè dễ vì tiền tài mà tranh cãi.
Sao Thái âm trong thuyết ngũ hành thuộc âm thủy. Ở trên trời là tinh túy của mặt Trăng, hóa làm sao "phú". Tương phối với sao Thái dương. Ở trong mệnh bàn làm "mẫu tinh" (sao mẹ), làm "thê tinh" (sao vợ) và làm "nữ tinh" (sao con gái). Thái âm ưa thích người sinh ban đêm. Sao Thái âm ở 12 cung cũng giống như sao Thái dương, mỗi cung có một tên gọi:
Thái âm đến Tý, gọi là "Thiên cơ". Chủ về nữ mệnh vinh hóa phú quý, có duyên với người, suy nghĩ sâu sắc, giỏi mưu kế.
Thái âm đến Sửu, gọi là "Thiên khố". Nhật Nguyệt tương hội, tính tình hào sảng, quan cao lộc hậu.
Thái âm đến Dần, gọi là "Thiên muội". Mặt trời mới mọc, mặt Trăng mất sáng, chủ về người có tính do dự, tiến thoái không quyết đoán.
Thái âm đến Mão, gọi là "Phản bối". Gặp cát diệu chủ về đại phú.
Thái âm đến Thìn, gọi là "Thiên thường". Ưa tương hội với tinh diệu thuộc Kim. Nếu hội chiếu Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì chủ về làm lãnh đạo, tham dự triều chính, tay nắm quân cơ đại quyền, danh lừng bốn biển. Đây là cách "Âm tinh nhập thổ" (Tinh túy của âm khí nhập vào đất)
Thái âm đến Tị, gọi là "Thiên hưu", còn gọi là "Thất điện". Chủ về có tật ở mắt, cận thị, hoặc có chồng hữu danh mà vô thực nhưng xa cách, hoặc chồng giỏi lo cho người mà không thích lo cho nhà. Nếu gặp tam hóa Khoa Quyền Lộc thì lại chủ về hưởng thụ phú quý.
Thái âm đến Ngọ, gọi là "Thiên y", hoặc gọi là "Hàn nguyệt". Chủ về người có tình cảm phong phú, nhiều ảo tưởng, tự tác đa tình, không lợi cho nguyên phối.
Thái âm đến Mùi, gọi là "Thiên khuê". Nhật Nguyệt đồng độ, tính tình hào sảng, thẳng thắn, nhưng chợt dương chợt âm, và không lợi cho mẹ.
Thái âm đến Thân, gọi là "Thiên hoàng", chủ về người phúc đầy lộc trọng, sự nghiệp lớn lao, khéo ứng biến, có quyền biến, giầu hùng tâm, suy tưởng phong phú.
Thái âm đến Dậu, gọi là "Thiên tường", chủ về phú quý.
Thái âm đến Tuất, gọi là "Thiên trợ", là cách "Nguyệt chiếu hàn đàm" (trăng rọi đầm lạnh). Đây chính là lúc thỏ ngọc phát ánh sáng, là thượng cách.
Thái âm đến Hợi, gọi là "Nguyệt lãng thiên môn" (Trăng sáng cửa trời), chủ về đại phú, hoặc được tiền của bất ngờ, còn gọi là cách "Triều thiên" (chầu trời), nhiều mưu kế, giỏi vạch kế hoạch sách lược.
Sao Thái âm rất ưa gặp tam hóa Lộc Quyền Khoa và Lộc tồn. Do Thái âm chủ về phú, chủ về ẩn tàng, chủ về yên tĩnh, nên đồng hành với Hóa Lộc hay Lộc tồn thì hợp nhau. Hóa Quyền, Hóa Khoa hội chiếu thì cương nhu tương xứng. Xương Khúc giáp cung hoặc hội chiếu tất phát về văn chương, học rộng nhiều tài.
Thái âm miếu ở Hợi, Tý, Sửu. Hãm ở Mão, Tị, Ngọ.
Thái âm là sao của Trung Thiên Đẩu, ngũ hành thuộc âm thủy, hóa khí làm "phú" (giầu có)
Thái âm và Thái dương là cặp "sao đôi" quan trọng trong Đẩu Số, do đó hai sao có tính chất tương đồng và cũng có tính chất tương dị. Thái âm chủ về phú, Thái dương chủ về quý; Thái âm chủ về nữ, Thái dương chủ về nam; Thái âm chủ về nhu, Thái dương chủ về cương; Thái âm thuộc thủy, Thái dương thuộc hỏa; Thái âm là mẹ, Thái dương là cha; Thái âm là con gái, Thái dương là con trai.
Thông thường bất kể nam hay nữ, mà gặp Thái âm, đều chủ về bất lợi cho lục thân phái nữ. Có thể căn cứ cung vị Thái âm bay đến, và tổ hợp tinh hệ của tam phương tứ chính để luận đoán mệnh vận của người bị bất lợi. Nói chung, thường chủ về lúc nhỏ mẹ bất lợi; nếu là nam mệnh, Thái âm lạc hãm là bất lợi cho vợ hay con gái.
Nam mệnh cung Thân gặp Thái âm, chủ về dễ tiếp cận với người khác giới, cũng chủ về người này tính tình dựu dàng, nhiều nữ tính. Nếu cung Phúc đức và cung Phu thê không tốt, có thể có khuynh hướng đồng tính.
Nữ mệnh cung Thân gặp Thái âm, không hội sát tinh, chủ về là người đoan trang, thông minh. Nếu gặp các sao Sát Hình, thì có khuynh hướng khắc chồng hình con. Nếu gặp các sao đào hoa, mà cung Phúc đức và Phu thê không tốt, thì cũng có thể phát triển thành đồng tính luyến ái.
Thái âm hội hợp Văn xương, Văn khúc, chủ về tài năng học rộng, có thể phát về văn chương. Rất ưa hội hợp với Lộc tồn, Hóa Lộc, bởi vì Thái âm chủ về cất giấu, phú, tĩnh, có khí vị hợp với Lộc tồn, Hóa Lộc. Hội hợp với Hóa Quyền, Hóa Khoa thì có thể cương nhu tương tề.
Thái âm và Thái dương hội hợp, nếu hai sao đều nhập cung miếu vượng, cũng chủ cương nhu tương tề, là người có nội tài, nhưng cao thượng độ lượng, phóng khoáng bất phàm.
Thái âm ở cung hãm không ngại Hóa Kị, vì Thái âm của cung hãm vốn không sáng, đương nhiên không sợ mây mù che kín. Ở cung vị miếu vượng thì lại sợ Hóa Kị, vì có mây mù che trăng sáng. Nhưng Hóa Kị ở Hợi thì gọi là "biến cảnh", trừ khi có các sát hình cùng chiếu, nếu không "biến cảnh" chỉ làm tăng vẻ rực rỡ của ánh trăng.
Vương Đình Chi kinh nghiệm, phàm là Thái âm thủ mệnh, lúc luận đoán rất nên xem kèm cung Phúc đức. Bởi vì Thái âm chủ về phú, ở xã hội cổ đại khá đơn thuần, tuy có cạnh tranh nhưng không kịch liệt, do đó việc chủ về sự hưởng thụ tinh thần của cung Phúc có ảnh hưởng không lớn. Còn trong xã hội hiện đại thì cạnh tranh kịch liệt, thủ đoạn cạnh tranh cũng nhiều âm mưu hơn, nếu cung Phúc đức mà không tốt, do Thái âm chủ về phú, thương thường sẽ trái lại, dễ dẫn đến đau khổ về phương diện tinh thần. Khi luận đoán cần chú ý.
Màu sắc khác nhau sẽ có năng lượng khác nhau, khi kết hợp tương ứng với thời gian và không gian, sức mạnh này sẽ gia tăng đáng kể. Ngày Tết, ngoài chọn quần áo đẹp, bạn cũng nên chú ý đến màu sắc.
Trong phong thủy, âm dương ngũ hành của các vật thể đều chịu ảnh hưởng bởi tiềm thức vũ trụ. Sự tồn tại của hình dạng, màu sắc cũng là sự tồn tại của năng lượng. Ứng với mỗi tuổi sẽ có một màu thích hợp, nếu mặc đúng sẽ tăng thêm năng lượng cho người mặc.
Dưới đây là màu sắc trang phục và trang sức may mắn cho 12 con giáp những ngày đầu xuân Bính Thân, có thể giúp cho mọi chuyện thuận lợi hơn.
- Mùng 1 Tết:

- Mùng 2 Tết:

- Mùng 3 Tết:

Tùy vào sở thích của từng người mà các bạn có thể chọn các tông màu đậm, nhạt hoặc kết hợp màu quần áo và trang sức thích hợp. Cũng không nhất thiết ngày nào cũng phải như vậy, hay cả ngày một màu mà chỉ khi có việc quan trọng trong ngày mới nên sử dụng. Ngoài ra khi phối màu không nên máy móc, hợp màu đen không có nghĩa là mặc quần áo đen, mà có thể chọn gam sẫm, kết hợp trang sức sẫm màu...
Nguyễn Mạnh Linh
Trưởng phòng Phong thủy Kiến trúc
Viện Quy hoạch & Kiến trúc Đô thị - ĐHXD
![]() |
| Hợp khâm thủy |
Các nhà phong thủy cho rằng, minh đường trước huyệt mộ là nơi chúng thủy triều hội. Dòng nước ở trên mộ phân nhánh từ đầu, đến chân sẽ hợp, bao bọc minh đường. Đó là: “Tam phân, tam hợp”.
Thực ra phân càng nhiều càng tốt. Các núi sau mộ phân ra gò Thanh Long, gò Bạch Hổ, nước cũng từ các núi sau mộ phân nhánh theo núi vòng quanh, hợp trước Long Hổ. Trung long mạch đến gần huyệt sẽ lồi lên bao, sinh ra 2 cánh gọi là thiền dực (cánh ve).
Dòng chảy phân nhánh bao theo và hợp ở trước cánh ve tạo thành chữ bát lớn. Long mạch lại sinh ra gò cứng gọi là cầu thiềm (hiên tròn). Nước từ cầu thiềm lại phân chảy sang 2 bên, hợp trước huyệt mộ, tạo thành chữ bát nhỏ.
Dưới cầu thiềm có một hình tròn lõm gọi là táng khẩu, dưới táng khẩu là tiểu minh đường. Bên trái, bên phải gọi là tiểu minh đường còn gọi là ẩn sa, hợp trước tiểu minh đường gọi là cầu chiêm (râu huyệt). Nước lại vòng râu huyệt gọi là hạ tu thủy (nước râu tôm). Chỗ dưới huyệt có vùng nước ẩn hình gọi là cực vưng thủy (nước vầng cực). Nước tiếp tục chảy, nếu chảy vòng quanh bao huyệt mộ tầng tầng, lớp lớp thì gọi là hợp khâm thủy. Nó là bằng chứng long mạch kết huyệt.
Theo Bí ẩn thời vận
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem lịch âm và giờ hoàng đạo chuẩn xác tại Lichngaytot.com |
Tết Đoan Ngọ: Vận thế của 12 con giáp biến động gì?
Thông thường người luận đoán mệnh thấy cung Phu Thê không tốt thì khuyên người ta nên kết hôn muộn, nhưng rốt cuộc thế nào mới tính là kết hôn muộn? Tại sao cần phải kết hôn muộn? Thực tế ra, một lá có liên quan đến việc thêm một tuổi thì tâm trí càng trưởng thành hơn, hai là đại vận này không nên thì đợi đến đại vận sau.
Ngoài ra, lấy cục số và hành hạn để nói, có 5 tình huống có thể luận kết hôn sớm hay muộn, phàm là kết hôn trước khi đại vận thứ 2 kết thúc là thuộc nhóm kết hôn sớm, sau khi đại vận thứ 3 kết thúc mà vẫn chưa kết hôn là thuộc nhóm kết hôn muộn.
Thủy nhị cục: Kết hôn lúc ở đại vận 12~21 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 22-31 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 31 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.
Mộc tam cục: Kết hôn lúc ở đại vận 13~22 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 23-32 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 32 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.
Kim tứ cục: Kết hôn lúc ở đại vận 14~23 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 24-33 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 33 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.
Thổ ngũ cục: Kết hôn lúc ở đại vận 15~24 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 25-34 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 34 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.
Hỏa lục cục: Kết hôn lúc ở đại vận 16~25 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn sớm; kết hôn lúc ở đại vận 26-35 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn bình thường; kết hôn sau 35 tuổi, là thuộc nhóm kết hôn muộn.
Kết hôn sớm do tổ hợp cung Phu Thê không tốt, nguyên nhân là vì có nhiều bại cục, do tuổi trẻ chưa có kinh nghiệm sống nên dễ có phán đoán và quyết định sai lầm. Bất luận cục số nào, đều cần phải cso tâm trí khá trưởng thành, hiểu biết trách nhiệm và nghĩa vụ trong hôn nhân, đồng thời phải biết cách kinh doanh hôn nhân như thế nào, rồi mang chúng vào đời sống hôn nhân một cách thích hợp, những điều kiện này thường đều ở trong khoảng thời gian của đại vận thứ 3. Nhưng cũng có trường hợp vốn thuộc cách cục kết hôn sớm, mà hôn nhân vẫn hạnh phúc mĩ mãn, cho nên còn phải xem thái độ điều chỉnh sao cho thích hợp với cuộc sống hôn nhân và phương pháp kinh doanh hôn nhân của song phương, mới là điểm quan trọng.
(Trích trong cuốn: Trung Châu Tử Vi - Tứ Hóa Phái của tác giả Nguyễn Anh Vũ biên soạn)
Những câu nói vui vẻ hài hước nhất về cuộc sống. Trong cuộc sống khi giao tiếp các bạn tạo cho người khác những tiếng cười vui nhộn sảng khoái sẽ là một yếu tố khá quan trọng để tạo mối quan hệ với mọi người trong xã hội.
Xemboituong.com xin gửi đến các bạn những câu slogan vui vẻ thông dụng hiện nay trong giới trẻ. Hi vọng sẽ đem lại tiếng cười cho các bạn.
1.Thật dễ dàng để quen với một người xa lạ
Nhưng lại khó khăn biết mấy để xa lạ với một người đã từng thân quen.
——-
2.Người thông minh mỗi ngày có rất nhiều việc để làm. Người ngu mỗi ngày chỉ có 3 việc để làm:
+ Ăn.
+ Ngủ.
+ Chơi.
——-
3.TỰ KỶ là gì???
là tự mình sống hết thế kỷ.
——–
4.Lúc bé cứ nghĩ cởi truồng là đi tắm
Lớn lên mới biết không chỉ đi tắm mới cởi truồng.
5.Ế khỏe ế đẹp ế văn minh
Ai chê anh ế anh khinh cả phường
Ế cao ế quý ế dễ thương
Ai chê anh ế anh tương vớ mồm.
6.Tình yêu đến rồi đi nhưng bệnh tật, con cái và nợ lần sẽ ở lại…
7.Nếu bạn không biết nói dối thì bạn sẽ
không bao giờ biết khi nào người khác nói dối bạn.
8.Đời ngắn!
Nên đừng lãng phí thời gian với những người
không có thời gian dành cho bạn.
9.Ở bên anh,em bình yên đến lạ
Xa anh, em thấy lạ nhưng cũng khá bình yên.
10.Tận cùng của sự ngu dốt
là đối xử quá tốt với nhiều người.
11.Ân tình bạc bẽo nuôi tôi lớn
Sóng gió cuộc đời dạy tôi khôn
Không khóc dù gặp bao cay đắng.
Bất chấp đau thương vẫn lạnh lùng.
12.Thích là phải nhích cho tới đích
Một khi không nhích thì mất tích không cần giải thích.
13.Con tàu sẽ rất an toàn khi neo đậu trong bến cảng.
Nhưng người ta đóng tầu không phải vì mục đích đó.
14.Con gái:
– Hễ mũi xấu thì mắt đẹp
– Mắt mũi xấu thì miệng đẹp
– Da xâu thì tóc đẹp
– Mặt xấu thì dáng đẹp
– Người xấu thì tâm hồn đẹpBằng cách này hay cách khác, đã là con gái là họ cứ phải đẹp.
15.Ông trời thật bất công:
– Tạo ra con gái để là khổ con trai.
– Nhưng tạo ta con trai để làm con gái vui.
16.Lúc bé cứ nghĩ chỉ có thuốc là đắng..
Giờ lớn lên mới biết có những thứ còn đắng hơn cả thuốc.
17.Nếu bạn không chấp nhận tính xấu của một người thì đừng cố yêu người đó. Là con người chẳng ai hoàn hảo.
18.Kẻ ngu thường tỏ ra nguy hiểm
Kẻ nguy hiểm thường tỏ ra ngu.
19.Giận là đem lỗi lầm của người khác trừng phạt bản thân mình.
20.Vạn lần nói yêu cũng không bằng một câu nói cần!
Ngàn câu nói cần cũng không bằng một lần quan tâm…
21.Sự thật là điều quý giá nhất mà chúng ta có.
Hãy tiết kiệm nó.
22.Khi đàn ông im lặng là họ đang suy nghĩ
Khi đàn bà im lặng là họ đang suy diễn.
23.Ở Mỹ:
Tắt đèn: Bảo vệ môi trường.
Ở Pháp:
Tắt đèn: Thắp sáng tương lai.
Ở Việt Nam:
Tắt đèn: Gia tăng dân số.
24.Nếu ngày ấy không đi về phía em, không gặp em
-Giờ này anh đã giàu.
25.Phụ nữ như những con đường,
đường càng cong càng nguy hiểm!
26.Gặp gỡ là mây tụ, ly biệt là may tan,
đều sẽ không ảnh hưởng đến vẻ đẹp của bầu trời.
27.Đừng buồn vì bạn xấu mà hãy tự tin rằng bạn có một vẻ đẹp tiềm ẩn và càng tìm càng ẩn
28.Chấp nhận nợ dai, không xù ai cả.
29.Có 2 hành động mà chỉ say người ta mới thoải mái thể hiện
một cách tự nhiên, công khai, và trung thực nhất.Đó là:
TỎ TÌNH
30.Đời là thế:
– Thật thà là chết.
– Ngốc nghếch là tiêu.
– Kiêu là bị oánh.
– Cứ nói ít, lạnh lùng, khùng hùng là dễ sống.
31.Khi niền tin ở mức độ cao nhất thì thất vọng sẽ kéo bạn
xuống thấp hơn cả cái đáy thất nhất.
32.Càng lớn lên rồi mới hiểu, để rèn giữa ý chí của một
con người, luôn cần có một ai đó nhẫn tâm và lạnh lùng với họ.
33.Phụ nữ thường hay nói:
“Đàn ông các anh ai cũng như nhau cả!”Vậy tại sao họ lại mất khá nhiều thời gian
để chọn lấy một người đàn ông?
34.Hứa hẹn chính là lời một tên lừa đảo thường nói
với một kẻ ngu ngốc.
35.Đôi khi hạnh phúc không phải là được một người yêu
mà là có một người khiến mình yên đến quên đi tất cả.
Đó là hạnh phúc và đó cũng là đau lòng…
36.Có một cách sỉ nhục đàn ông đó là
đừng đếm xỉa tới người phụ nữ (vợ,bạn gái) đi cùng anh ta…
37.Không có hạn phúc nguyên chất dành cho người lớn
Chỉ có hạnh phúc được thỏa hiệp.
Chính vì thế mà rất nhiều người vẫn luôn từ chối lớn lên!
38.Ái tình một chứng bệnh gồm có 3 giai đoạn:
– Khao khát…
– Chiếm đoạt…
– Chán chường…
39.Người đời thường hay nói đến những
thói xấu của người đàn bà
Nhưng…
Không ai có thể sống xa con người ấy.
40.Mọi người rồi sẽ quên đi điều bạn nói
Họ cũng sẽ quên đi việc bạn làm.
Nhưng họ sẽ không quên những gì bạn làm họ cảm nhận.
41.Có người có thể đem ác ý giấu trong lời khen.
Cũng có người có thể đem nỗi lòng cất giấu trong…
tiếng mắng mỏ.
42.Xinh đẹp chỉ khiến người đàn ông dừng chân,
thông minh mới có thể khiến người đàn ông ở lại bên mình.
43.Trí tuệ con người trưởng thành trong tĩnh lặng,
còn tính cách trưởng thành tròn bão táp.
44.Vẻ đẹp bên ngoài khiến người ta sững sờ khi gặp mặt.
vẻ đẹp bên trong khiến người ta ngơ ngác lúc chia tay.
45.Nếu anh thắng, anh không cần giải thích.
Nếu anh thua, chẳng ai nghe anh giải thích.
-Hitler-
46.Điều quan trọng trong tình yêu không phải là
chàng trai hay cô gái có hoàn hảo hay không
mà là…
họ hoàn hảo trong mắt nhau
Vậy là đủ.
47.Trêu gái là một nghệ thuật
Người trêu gái là một nghệ sỹ
Bị gái tát khi trêu chỉ là tai nạn nghề nghiệp.
48.Muốn thành công thì phải biết giữ bí mật
cho nên “ném đã phải biết giấu tay”
49.Cỗ nào chẳng có thịt gà
Đàn ông không có đàn bà mất vui.
50.Điều buồn nhất của kẻ phản bội là…
nó không đến từ kẻ thù của chúng ta!
51.Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương.
Nhưng cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.
52.Làm con gái thật tuyệt,một trong số đó là…
Không phải nhập ngũ…
53.Đi uống cafe một mình không có nghĩa là cô đơn,mà đơn giản
chỉ là bạn biết tận hưởng hạnh phúc cuộc sống một cách độc lập.
54.Con gái cũng như một cuốn sách
Đừng mong đọc một ngày là hiểu hết được.
55.Lúc bé cứ tưởng không có não là chết…
Lớn lên mới biết…
Nhiều người “không có não” mà vẫn sống được.
56.Sợ lắm con người luôn tươi cười…
nhưng 9/10 là giả tạo.
57.Có người nghe có mỗi bài hát, không phải vì nó hay.
mà đơn giản, nó gắn liền với kỷ niệm nào đó.
58.Yêu là đơn giản nhưng căn bản là giữ được bao lâu.
59.Con gái thường nói cần một sự quan tâm, nhưng để ý mà xem,
Ai càng lạnh lùng và vô tâm thì họ lại càng yêu,…
để rồi quên đi những tình yêu nồng nhiệt và chân thành nhất.
60.Thật thà thì mất lòng
Thật lòng thì mất hết.
61.Có một số ký ức định sẵn là không thể nào xóa đi.
Cũng như có một số người, không thể nào thay thế được
62. Khoảng cách …
là điều duy nhất có thể làm 2 nửa con tim lạc nhịp nhau mãi mãi.
63. Ngày ruồi tháng muỗi năm bọ chét
Đêm nằm sốt rét nhớ người yêu.
Sau khi thưởng thức kho hình ảnh chữ có những câu nói hài hước trên đây, nếu bạn cảm thấy vui thì nhớ thường xuyên truy cập vào ## để xem những câu nói hay khác bạn nhé.
Lời tựa của Trần Danh Lâm, tự Khiêm Trai, người làng Bảo Triện (Bắc Ninh), tiến sĩ khoa Tân Hợi 1691.
Vân đài loại ngữ chia làm chín quyển, phân loại rành mạch, nghị luận rõ ràng: Trên từ thiên văn, dưới đến địa lý, giữa là nhân luân, cái học cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đều có đủ cả, có thể phát minh được nghĩa sâu xa của các bậc hiền thánh và bắc cầu chỉ bến cho kẻ hậu học. Sau Lục Kinh, và Luận Ngữ, Mạnh Tử, ông thật là người biết lập ngôn chăng?...
1. Đạo Trời hư không, đạo Đất tĩnh mịch, người ta vừa hư vừa tĩnh mới hợp được với đạo Trời - Đất. Vì, hư thì tự minh, tĩnh thì tự định. Tâm có minh, tính có định, thì cái công hiệu tham tán trời đất mới là ở đó.
2. Đức của trời to lớn thay! Vạn vật nhờ ở trời mà bắt đầu, ấy là nói về Khí. Đức của đất mẫu mực thay! Vạn vật nhờ ở đó mà sinh nở ra, ấy là nói về Hình. Nói về trời đất, thì đều có hình có khí cả; nói về vạn vật, đều bẩm Khí ở trời mà thụ Hình ở đất.
3. Đầy rãy trong khoảng trời đất đều là Khí cả. Còn chữ "Lý" chỉ là để mà biện luận rằng đó là cái thực hữu chứ không phải hư vô. Lý không có hình tích, nhân Khí mà hiện ra, vậy Lý ở trong Khí. Âm Dương, cơ ngẫu, tri và hành, thể và dụng, thì có thể nói là đối nhau, còn như Lý và Khí thì không thể nói là đối nhau được.
4. Thái Cực là một, là một khí hỗn nguyên (lúc ban đầu hỗn độn). Từ Một sinh Hai, Hai sinh Bốn, thành ra vạn vật; thế thì Thái Cực vốn chỉ có Một.
Sách Đại Diễn dùng 50 cỏ thi để bói, mà chỗ Một thì bỏ trống không dùng để tượng trưng cho thái cực. Thế không phải là "thực", " hữu" thì là gì.
Khi mở ra khi đóng lại thì gọi là biến, qua lại khôn cùng gọi là thông; đóng lại là "không", mở ra là "có"; đi qua là "không", trở lại là "có"; cứ vậy "không" với "có" theo nhau, người và vật đều như vậy cả. Từ xưa đến nay Lý luôn luôn tồn tại, xem thế đủ biết trong chỗ hư không tĩnh lặng, nguyên vẫn có cái Lý ấy. Như thế mà Lão Tử lại bảo rằng "cái Hữu được sinh ra từ cái Vô" thì liệu có được chăng?
5. Phân tách ra mà nói thì Trời thuộc dương, Đất thuộc âm; dương chủ động, âm chủ tĩnh. Dụng của trời thường động nhưng Thể của trời vẫn tĩnh. Thể của đất vốn tĩnh nhưng Dụng của đất thường động.
Thể của Trời mà không tĩnh thì Tứ Duy (4 góc "tứ sinh", các cung Càn Khôn Cấn Tốn) sao được yên lặng vững bền, và Thất Chính (ngũ tinh & nhật, nguyệt) biết tựa vào đâu được. Dụng của Đất mà không động thì chỉ là một khối trùng trục mà sinh ý hầu như mất hết cả.
Trời thì Hình động và Khí tĩnh, đất thì Hình tĩnh và Khí động.
6. Liệt tử nói: Trời chỉ là Khí tích lại, không có định chỗ, không có hình tượng. Còn Nhật, Nguyệt và các tinh đẩu cũng chỉ là các Khí tích lại mà có ánh sáng đó thôi.
7. Kỷ Bá nói: Đất ở bên dưới người ta và ở giữa khoảng hư không, do có Khí lớn nâng lên. Như thế thì không những trời (khí dương) trong nhẹ mà nổi lên trên, mà đất (khí âm) cũng có thể nổi lên trên. Trời nổi thì bao bọc lấy cả nước và đất; còn đất nổi ở trên nước và ở giữa trời. Ấy là thuyết Hồn Thiên.
8. Sách Khôn dư đồ thuyết của người phương Tây nói: "Nếu không có Khí thì bầu trời là hư không, làm sao đất có thể lủng lẳng ở giữa hư không được?"
Sách ấy lại nói "Loài chim lấy cánh gạt gió mà bay, cũng như người lấy tay gạt nước để mà nổi lên". Cũng lại nói "người ta hướng vào chỗ không mà vỗ tay tất thấy tiếng vang, nếu ở trong đó không có Khí thì chắc chắn chẳng có gì để mà sinh âm thanh ấy được".
Sách ấy lại nói "Trong kho đang im lặng, không có tiếng, ta thấy trong luồng ánh sáng khe cửa có bụi bay lên bay xuống lung tung, chắn chắn là do Khí gây nên như thế".
Tôi kể ra vài việc ấy để chứng minh rằng Khí là có thực, thế mà một số người còn nghi ngờ cho là lạ!
Nay xét lại sách Thông Luận của Tiết Huyên đời Minh (1368-1643) có nói: "Phẩy cái quạt thấy có gió, thế đủ biết trong khoảng trời đất này không có chỗ nào là không có Khí". Sách ấy lại nói "Trong khoảng trời đất, bụi bay tơi bời không ngừng, không gián đoạn. Ấy đều do Khí sinh ra như thế. Xem ánh mặt trời chiếu qua cửa sổ thì biết". Thuyết này cũng giống như đoạn trên (thuyết của người phương Tây). Sách Tố Vấn cũng nói "Khi lên khi xuống, khi ra khi vào, ta thấy đâu cũng đều có Khí cả".
9. Dưới vòm trời, trên mặt đất, đều là gió với Khí cả, chỗ gần người không thấy gió vì nhiều vật ngăn trở và sinh khí làm tan đi. Lên cao vừa thì gió to vừa, càng cao thì gió càng to mà làm cho mọi vật trở nên ráo và cứng. Vả lại, như chỗ đất sâu dưới chân núi, nếu đào sâu xuống khoảng hơn 1 trượng (2m) mà lấy đất lên, lúc đầu còn thấy nó mềm và ướt, đem lên khỏi mặt đất thì khô cứng như đá, đấy chẳng phải là do nó gặp gió thì cứng và ráo lại đó sao?
Đứa hài nhi ở trong bụng mẹ chỉ là khối huyết bào, khi đẻ ra thì rắn chắc, cũng là lẽ ấy. Khí trên trời sa xuống, khí dưới đất bốc lên, những khí ấy đều là sinh ý của trời đất. Gió với khí quanh quẩn trong khoảng ấy, chứ chẳng phải là lúc động thì mới có còn lúc tĩnh thì không có đâu.
10. Khí trời đất vận động không gì mạnh hơn gió và sấm. Bão táp (cụ) là âm còn sấm sét là dương. Khi bão mới bốc lên mà có sấm thì bão tan vì âm bị dương át đi. Khi bão sắp tạnh thì chắc chắn có sấm cũng là dương làm tan âm đi.
11. Ở miền núi của Trung Châu ít sấm, vì đất nước ở đấy vừa sâu vừa dày, dương khí bền vững. Cho nên mùa Đông mà có sấm thì người ta coi là điềm lạ. Ở miền biển của Lĩnh Nam có nhiều sấm vì đất nước ở đây vừa nông vừa mỏng, dương khí phát tiết, cho nên mùa Đông có sấm là chuyện thường.
12. Khí táo (khô, ráo) sinh ra gió, gió tan thì trời sáng tạnh; Khí thấp (ẩm, ướt) sinh ra mây, mây bốc lên rồi làm thành ra mưa; đó đều là hòa khí tuyên dương. Khí thấp – táo lẫn lộn thì sinh ra sương mù, mà mù nhiều thì sinh ra chướng khí bốc lên, đó là độc khí uất tắc.
13. Chữ “Cụ” nghĩa là bão, trong nó thì một bên có chữ “cụ” nghĩa là đủ, tức là ý nói đủ cả bốn thứ gió đông, tây, nam, bắc. Nếu bão bắt đầu vào buổi sáng thì sẽ kéo dài tới 3 ngày, bão bắt đầu vào buổi chiều thì sẽ kéo dài 7 ngày, bão bắt đầu vào buổi trưa thì chỉ kéo dài 1 ngày. Lúc bão mới nổi lên, nếu gió từ đông bắc lại thì tất sẽ đi từ bắc sang tây. Nếu gió thổi từ tây bắc lại thì tất sẽ đi từ bắc sang đông. Rồi đều quay sang hướng nam mà tắt, gọi là “lạc tây” và “hồi nam”. Nếu không “lạc tây” không “hồi nam” thì 1 tháng sau lại có bão. Bão rất đúng giờ, nếu nổi ban ngày thì sẽ tắt ban ngày, nếu nổi ban đêm thì tắt ban đêm. Cụ phong là gió bất chính, là khí không thuận, thế mà còn có thường độ (mức độ - quy luật) như vậy!
14. Trời cao cách đất không biết mấy vạn dặm; môn thiên văn học đo lường ngang dọc thuận nghịch, thêm bớt nhân chia, chẳng qua cũng chỉ cần bỏ vào 1 nắm con toán mà biết đường đi của Thất Chính (Nhật, Nguyệt và các sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và Nhị Thập Bát Tú. Như thế chẳng phải là cái Thể thì to lớn, cái Dụng thì rất nhiệm màu, mà đường đi thì có phép “thường” (tính quy luật) hay sao? Nếu không “thường” thì sao được yên, nếu không yên thì sao được lâu dài?
Xem như gió là do Khí trời tụ lại, tán ra mà phát ra tiếng. Đời xưa có truyền lại các phép xem khí hậu, ấy là nói xem ở lục địa; còn như ngoài biển cả mênh mông không biết đâu là đâu thế mà các lái thuyền, chân sào cũng biết được ngày giờ nào không có bão thì cho thuyền đi. Như thế chẳng qua cũng do kinh nghiệm đó thôi. Trang Tử nói “Gió khởi từ phương bắc rồi sang phương đông hay tây, lại có khi lơ lửng bay trên không. Ấy ai thở ra hít vào như vậy, ấy ai ăn ngồi vô sự mà phe phẩy như vậy?” Lời nói đó có sở kiến chăng?
15. Phương Bắc nhiều âm ít dương, phương Nam nhiều dương ít âm. Cho nên ở phương Bắc trời chưa rét lắm mà nước đã thành băng, đó là vì dương thì tránh âm mà âm thì kết ở dưới vậy. Mùa đông rét, mưa tuyết là vì âm bức dương mà dương bị thúc lại ở trên.
Ở phương Nam, phần lớn âm khí bị tan ở dưới, cho nên nước không thành giá được. Phần lớn dương phát tiết ở trên, cho nên mưa không thành tuyết được.
16. Đất lấy thổ làm thịt, lấy đá làm xương, cây cỏ làm lông, sông ngòi làm mạch. Cây cỏ tươi tốt thì đó là Khí thịnh, sông ngòi đầy dãy thì đó là khí thuần, còn đất như mỡ và đá như vóc là vì có sinh khí rót vào. (Nếu) Cây khô già mà thấy vẫn còn mọc rêu, đá bị đập bị đẽo mà ở chân hòn đá tảng còn ướt thì do Khí của chúng chưa hề mất vậy.
17. Người ta cùng với trời đất là một gốc, suốt ngày cộng tác, ăn uống, càng cùng với khí đất chung đụng. Cho nên sách Gia Ngữ nói “Người sinh ở đất rắn thì tính cương cường, sinh ở đất mềm thì nhút nhát, sinh ở đất rắn đen thì tính tỉ mỉ, sinh ở đất nở thì người đẹp, sinh ở đất sưa mỏng thì người xấu”.
Sách Nhĩ Nhã nói “Người sinh ở đất Thái Bình (TQ) thì nhân hậu, sinh ở đất Đan huyệt thì khôn ngoan, sinh ở đất Thái Mông thì chắc chắn, sinh ở đất Không Động thì vũ dũng”.
Sách Hoài Nam Tử (Lưu An – Hoài Nam Vương) nói “Khí núi sinh nhiều con trai, khí đầm sinh nhiều con gái, khí nước sinh nhiều người câm, khí gió sinh nhiều người điếc, khí rừng sinh nhiều người yếu ớt, khí cây sinh nhiều người còng, khí đá sinh nhiều người khỏe, khí ở dưới thấp sinh nhiều người phù thũng, khí âm sinh nhiều người rũ tay chân, khí hang hốc sinh nhiều người có chứng tê liệt, khí đồi bốc lên sinh nhiều người cuồng, khí thoáng sinh nhiều người nhân (hậu), khí ở gò to sinh nhiều người tham, khí nắng sinh nhiều người yểu, khí lạnh sinh nhiều người thọ. Sinh ở nơi đất nhẹ thì người nhanh, sinh ở nơi đất nặng thì người chậm chạp, sinh ở nơi nước đục thì tiếng cười thô, sinh nơi nước chảy xiết thì người nhẹ, sinh nơi nước chảy chậm thì người nặng. Đất trung châu sinh nhiều thánh hiền”.
Thái sử tập đời Tống nói “Dân vùng rừng rú thì da xanh mà gầy là vì hấp nhiều khí cây, dân vùng biển sông đầm thì da đen nhuần vì hấp nhiều khí nước, dân vùng nhiều gò đống thì người lẳn mà dài vì nhiều hỏa khí, dân vùng bờ sông và đất phẳng thì khôn mà bướng vì nhiều khí kim, dân vùng ẩm thấp thì to béo mà bệu vì nhiều thổ khí”. Ấy là đều nghiên cứu vật lý (cái lý của vạn vật) đến cùng, cứ thế suy diễn ra thì không chỗ nào sai cả.
18. Nắng to thì nước nổi bọt vẩn đục 1 đêm, hễ nổi cơn gió bấc thì nước lại trong suốt muôn khoảng một màu biếc, ấy là do khí sinh ra thế. Ở chỗ núi tạnh trời đã lâu, mây khói mờ mịt, bỗng có trận mưa to làm tan nhạt hết, trời lại sáng ra và muôn cảnh đều đổi mới cả, ấy cũng là do khí. Đương lúc tối tăm, ai trông thấy mà chẳng phẫn uất, đến khi cơ trời chuyển vận, một lát trời lại trong sáng ngay, ai chẳng vui sướng; mà nào có biết đâu là trong đó có chứa biết bao sựu nhiệm màu! Cơ trời bĩ rồi lại thái, loạn rồi lại trị, chính là như thế.
19. Sấm sét vang động, gió mưa thấm nhuần, Nhật Nguyệt vẫn hành, rét rồi lại nực, phấn phát sự sinh dưỡng của vạn vật, vận động mở đóng đều là có việc cả. Suy xét cho đến cùng mà nói, chẳng qua chỉ có giản dị (thuộc tính của Dịch) mà thôi. Tính tình của trời đất, sự nghiệp của thánh hiền, đều không ngoài hai chữ giản dị ấy. Trong hai chương Thượng Truyện, Hạ Truyện đấng thánh nhân đã hai ba lần chú ý đến vấn đề đó. Vậy, bọn Nho ta theo đuổi sự học tập và đem áp dụng vào chính trị, sao lại thích làm sự hiểm lạ, chuộng phiền toái làm gì?
20. Khí rất thần diệu, rất tinh vi: Khí mà thịnh tất nhiên thư thái, khí mà suy thì phải co rút, xem nơi cây cối tươi hay khô thì biết. Khí trong thì thông, khí đục thì tắc, xem ở lòng người sáng hay mờ thì biết. Khí đầy thì lớn lên, vơi thì tiêu mòn, xem thủy triều thì biết. Hòa thì hợp, trái thì lìa tan, xem thời cục trị hay loạn thì biết.
21. Nhật thực có thường độ; nhưng việc người biến đổi cùng với nhật thực thường có liên quan. Người ta sắp làm điều bất thiện, gặp lúc mặt trăng đi vào triền độ chỗ ăn nhau, bèn che lấp mặt trời; đó là Khí của người động đến trời. Lại như, trời sắp mưa dầm, thì ngưòi nào bị đánh hay ngã bị thương, tất thấy đau buốt; đó là khí trời động đến ngưòi. Điều đó có thể chứng nghiệm rõ trời với người cùng một lẽ.
22. Sách Tịch thượng đàm của Du Diễm nói; "Muôn biết thời giờ âm dương nên phân biệt bằng mũi": hơi trong lỗ mũi, dương thưòng ở bên tả, âm thường ỏ bên hữu. Cứ đến giữa giờ Hợi, giờ Tý thì hai lỗ mũi đều thông, vì người ta cũng là một bầu trời đất nhỏ (nhân thân nhất tiểu thiên địa).
23. Sách Thiên đạo luận của Nhân Loan đời Chu có dẫn sách Tê khổ kinh,nói rằng: "Tròi đất đến kiếp vận bị cháy thiêu đi hết thì người và vạn vật không còn gì nữa". Sách ấy lại nói: "Đến lúc mạt kiếp, trời đất thay đổi, mặt trời, mặt trăng cùng các vì sao cũng không còn". Thuyết ấy cùng giống với thuyết "Tuất hội, Hợi hội" của Khang Tiết. Nhưng, những điều nói trong sách của Đạo giáo hoang đưòng không có căn cứ, chỉ có thưvết của Khang Tiết lấy hai quẻ "Cấu" và "Phục” suy tính là đúng.
24. Sách Trường lịch của Từ Chỉnh nói: "Trời đất hỗn độn như quả trứng gà. Bàn Cổ sinh ở trong ấy, thọ một vạn tám nghìn năm. Lúc khai thiên lập địa, Khí dương trong là trời, Khí âm đục là đất. Bàn Cổ ỏ trong đó, mỗi ngày biến đổi chín lần, ở trên trời là thần, ỏ dưới đất là thánh; mỗi ngày trời cao thêm một trượng, đất dày thêm một trượng, Bàn Cổ cao thêm một trượng. Vì đó, biết Bàn cổ sóng một vạn tám nghìn năm, trời rất cao, đất rất sâu, Bàn Cổ rất lớn. Sau đó kế đến Ba đời Hoàng (Thiên hoàng, Địa hoàng và Nhân hoàng). Số bắt đầu từ 1,lập ở 3,thành ở 5, thịnh ở 7,cùng cực đến số 9. Cho nên nói tròi cách đất 9 vạn dặm". Đó là thuyết hoang đường không thể tin được.
Còn như thuyết Nguyên Hội Vận Thế của Thiệu Tử thì lấy mấy quẻ Cấu, Phục, Kiền, Khôn trong đồ Tiên thiên (của Thiệu tử,theo quái hoạch Phục Hi), căn cứ vào chỗ sinh, tiêu, tiền, hậu, suy ra mà biết được.
25. Sách Quyết nghi yếu chú của Ngu chí đời Tấn nói: "Đời Hán Vũ Đế đào hồ Côn Minh rất sâu, chỉ thấy tro đen mà không thấy đất, cả triều đình không ai hiểu ra sao, mới đem việc ấy hỏi Đông Phương Sóc. Sóc tâu: ”Kẻ hạ thần ngu không biết được,xin thử hỏi đạo sĩ ở nước Tây Vực". Vua Vũ đê cho rằng Đông Phương Sóc còn không biết thì hỏi người khác cũng khó lòng biết. Đến đời Hán Minh đế có đạo sĩ ngoại quốc đến Lạc Dương, có ngưòi nhớ lời Đông Phương Sóc, bèn đem việc đào hồ thấy tro đen ra hỏi thử, thì người đạo sĩ ấy đáp rằng: "Trong kinh Phật có nói lúc trời đất sắp tan rã, thì lửa cháy thiêu hết, cái tro đen ấy là tro thừa của "kiếp thiêu”.
Cứ theo thuyết ấy thì trước đây một nguyên, mười hai hội (theo Hoàng cực kinh thế của Thiệu Khang Tiết thì 1 nguyên = 12 hội = 129600 năm), sao lại không có một lần trời đất biến đổi hỗn hợp, rồi sau lại khai sáng ra?
Chu tử nóí: "Thường thấy ở trên núi cao có xác sò hến, hoặc sinh ra ỏ trong đá, Đá ấy là đất cũ từ đời xưa; sò hến là vật ở trong nước. Vật ở dưới thấp biến làm ở trên cao, vật mềm lại biến ra rắn". Do việc đó mà suy nghĩ kỹ, thì nó có thế chứng nghiệm được lời nói trên.
26. Sách Tố vấn có bàn về Ngũ vận, Lục Khí. Chử Trừng bác thuyết ấy là không phải, ông cho là: "Nam, Tháng, Ngày, Giờ, kể từ Giáp Tí, Ất Sửu lần lượt mà tính; trời đất ngũ hành, rét, nắng, gió, mưa, thoăn thoắt biến đổi; ngưòi ta cảm phải cái Khí ấy sinh ra tật bệnh; Khí trời thay đổi không biết trước được, cho nên tật bệnh cũng khó dự định; Khí không phải cái mà ngưòi làm ra được,cho nên tật bệnh người ta cũng khó lường được; suy nghiệm phần nhiều bị sai, nên cứu chữa dễ lầm". Chử Trừng nói thế chưa hẳn là phải.
Riêng tôi thì cho là Khí của trời đất chẳng qua chỉ là âm, dương, ngũ hành mà thôi, xung khắc hay hòa hợp không đều, làm chủ hay làm khách thay đổi, coi giữ ngày tháng lưu chuyển trong tiết hậu, biến hóa rất nhiều, người ta cảm phải, chưa chắc đã ứng hết; nhưng đại khái không sai mấy. Xem ngay như chứng ôn dịch, tùy từng năm rét hay nóng, mà hình thể khác nhau. Lại như, cũng là một bệnh mà khi táo, khi thấp sinh chứng khác nhau. Như thế thì sao có thể bảo thuyết Khí vận là không nghiệm?
27. Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ hưóng Mão (tháng hai) chính là tiết Xuân phân,cho đến tiết Lập hạ, giữa tháng Tị (tháng tư), là lúc Thiếu dương quân hỏa làm chủ khí, tiết trời lúc ấy sáng sủa, là đức của vua chúa.
Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Tị (tháng tư) chính là tiết Tiểu mãn, cho đến tiết Tiểu thử vào giữa tháng Mùi (tháng sáu) là lúc Thiếu âm tướng hỏa làm chủ khí, tiết trời lúc ấy nóng dữ, là lúc tướng hỏa làm việc.
Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Mùi (tháng sáu) chính là tiết Đại thử, cho đến tiết Bạch lộ vào giữa tháng tám, là Thái âm thấp thổ làm chủ khí, tiết tròi lúc ấy mây, mưa nhiều, Khí ẩm thấp bốc lên.
Từ khi chuôi sao Bấc đẩu chỉ vào hướng Dậu (tháng tám) chính là tiết Thu phân cho đến tiết Lập đông vào giữa tháng mười, là lúc Dương minh táo kim làm chủ khí, tiết trời đến lúc ấy thì vạn vật đều khô ráo.
Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Hợi (tháng mười) chính là tiết Tiểu tuyết cho đến tiết Đại tuyết (vào giữa tháng mưòi hai) là Thái dương hàn thủy làm chủ khí, lúc ấy tiết trời rét quá.
Từ khi chuôi sao Bắc đẩu chỉ vào hướng Sửu (tháng mười hai) chính là tiết Đại hàn cho đến tiết Kinh trập (vào giữa tháng hai) là lúc quyết âm phong mộc làm chủ khí, tiết trời lúc ấy gió nhiều. Ấy là, mỗi một Khí tiết ở trong khoảng hơn 60 ngày, quanh khắp vòng trời, hết rồi lại quay lại.
28. Sách Thái bình quảng ký chép rằng "sách Luận hành nói: Kính Dương Toại để lấy lửa, kính Phương Chư đê lấy nước. Hai thứ kính ấy được chế ra theo hình thể khác nhau. Đúc kính Dương Toại phải chọn giờ ngọ, ngày bính ngọ tháng năm, luyện đá ngũ sắc mà làm hình như cái kính tròn, chiếu vào mặt trời thì lấy được lửa. Đúc kính Phương Chư thì chọn giò tí、nửa đêm ngày nhâm tí tháng 11, luyện đá ngũ sắc làm hình như cái chén đất, chiếu vào mặt trăng thì lấy được nước".
Sách Hoài nam tử nói: Kính Dương Toại chiếu vào mặt trời thì cháy và bốc lửa; kính Phương Chư chiếu vào mặt trăng thì ướt mà chảy nước, Sách ấy có chua nghĩa "Hai thứ kính ấy đều là tinh của đá ngũ sắc". Giữa khoảng trời đất huyền vi hoảng hốt, lấy một thứ vật trong tay đem chiếu lên trên không mà lấy được nước, lấy được lửa, đó là do sự cảm ứng của âm dương vậy.
Rượu là chất do người ta cất ra, thế mà hơi rượu cũng cảm ứng với mặt trời, vì trong đó có lý do. Sách Thái bình quảng ký chép: khi rượu cất được rồi, nước trong ở trên hũ thường chuyển theo phía mặt trời; buổi sáng thì trong ở góc đông; buổi trưa thì trong ở góc nam; khi mặt trời xế về chiều thì trong ỏ góc tây; nửa đêm thì trong ở góc bắc. Còn nước rượu trong luôn cả ngày thì không theo hướng mặt trời.
29. Phùng Triệu Trương làm sách Cẩm nang bí lục, nói: "Nhà làm nghề đánh cá sinh con tất phần nhiều có gân xương cứng rắn, vì trong khi có mang, mẹ rét con cũng rét, mẹ nóng con cũng nóng, đứa hài nhi đã từng trải gió sương, nắng nóng từ lúc còn ỏ trong bào thai. Khi nó đã được sinh ra, da thịt dày dặn, gân xương cứng rắn, tà Khí không nhiễm vào được". Thuyết ấy rất phải, vì khí còn luyện mà bền được, huống chi là tính. Cổ nhân dạy con từ trong thai, cũng là nuôi con thành tính tốt đó.
30. Ngưòi ta lúc ngủ say, hễ gọi thì tỉnh ngay; đó là Khí gọi thần hồn về. Trong lúc chiêm bao, phàm những sự gặp gỡ, nói năng, làm lụng, mừng giận khi tỉnh dậy nhớ hết cả; đó là thần động đến khí. Thần và Khí của người ta thường như thế, thì đủ biết thần và Khí của trời đất từ xưa đến nay vẫn lưu thông, không chỗ nào là không thấy có; cho nên bậc hiền đời xưa có nói rằng: "Thiên tri, địa tri” (trời biết, đất biết) là thế đó.
Lòng ngưòi bao la rộng rãi,trên thông cảm được trời đất, giữa trắc lượng được quỉ thần, dưới xét được muôn vật. Sự huyền diệu của ”tướng” và ”sô'",tản ra Hình Khí, từ chỗ không ra chỗ có, từ chỗ có vào chỗ không, trong khoảng mờ mịt hay sáng tỏ đều là đạo cả. Lòng có ngay thẳng mớí biết được đạo, mới thấy biết được cơ vi; thấy biết được cơ vi mối làm được mọi việc; làm nên được mọi việc mới thông đạt quyền biến. Người ta tạo ra vận mệnh, chứ không phải vận mệnh tạo ra người. Cái lẽ trời với người hợp nhất, chẳng qua như thế.
31. Kinh Dịch nói: “Người nhân thấy Đạo thì gọi nó là nhân; người trí thấy Đạo thì gọi nó là trí. Đạo là những điều hàng ngày nhân dân thường dùng, mằ không biết”.
Âm phù kinh nói: “Của cải và tư cơ của nó, thiên hạ không ai biết, không ai thấy. Người quân tử nắm được nó thì chịu kiên trì trong cảnh cùng khổ; kẻ tiểu nhân nắm được nó thì xem nhẹ mạng trời”.
Ý nghĩa lời nói ấy cũng là một. Cái nghĩa lý sâu xa đối nhất của Lý và Khí đã tóm hết ở trong ấy. Cái hiệu dụng đóng hay mở, quyền cổ vũ tinh vi mà bậc thánh nhân được trời trao cho, bậc thánh nhân lấy đó mà thuận theo đạo trời, làm nên muôn vật (việc) hoàn thành muôn hóa, định muôn dân, khuất phục muôn nước.
32. Chu tử nói: “Co duỗi, đi lại, là khí: Khí của người với của trời đất là cùng liên tiếp với nhau, không đứt quãng. Người ta động lòng thì động đến khí, cùng cảm thông ngay với cái Khí ấy, mà Khí ấy do co duỗi đi lại ấy mà cảm thông. Xem như việc bốc phệ (bói toán) hễ trong lòng nghĩ đến việc gì là vẫn đã có nó, chỉ cần nói động đến cái mình muốn là nó ứng ngay”.
Chu tử lại nói: "Người ta bẩm thụ Khí ngũ hành của trời đất, thì Khí ấy phải qua khắp thân thể người. Nay lấy Can Chi ngũ hành để suy tính số mệnh người, cũng như nhà địa lý (phong thủy) suy chọn phường hưổng của rừng núi, hợp hay là trái, cũng cùng một lẽ”.
Riêng tôi cho rằng, hợp cả hai thuyết ấy mà xem thì Chư tử không những chỉ trọng bốc phệ mà cả đến số mệnh, hình tượng cũng không bỏ qua. Những kẻ hiếu biện thường bác bỏ hai thuyết ấy, nhưng xét ra cũng có quan thiết với Lý, Khí, không nên lơ là.
33. Theo thuyết của nhà địa lý học (phong thủy), những người biện sĩ phần nhiều họ không tin (thuyết Lý Khí), vì họ cho là những vật đã hủ nát biến hóa đi rồi thì không biết gì nũa. Nói cho đúng, người ta với trời đất cùng một nguồn, cùng một mạch với tổ tiên. Sinh Khí của trời đất thường được thông, thì tự nhiên có thể tư nhuận được xương khô; tinh thần của tổ khảo thường được tụ, thì tự nhiên có thể giáng phúc cho con cháu.
Thanh Ô Tử (một nhà phong thủy) nói: “Tinh thần (của tổ tiên) trở về nhà, hài cốt trở về đất", Thế nghĩa là: Khí lành cảm ứng, quỷ thần giáng phúc cho người. Lý ấy rất rõ. Người lại nói: “Có Khí ở trong, (vạn vật) mới phát sinh được, còn Khí ngoài thì làm cho thành hình; trong với ngoài giao hòa nhau thành ra phong thủy (địa lý)".
Xem mấy điều ấy, không còn ngờ gì nữa.
34. Hoành Cừ vốn không tin phong thủy, nhưng người lại nói: "Người phương nam tin dùng thuyết Thanh nang kinh (pho sách phong thủy) còn có thể tin được. Họ thử đất huyệt táng tốt hay xấu, họ dùng chỉ (lụa) ngũ sắc đem chôn xuống đất độ mấy năm, rồi đào lên xem. Hễ đất tốt thì sắc chỉ không phai, đất xấu thì sắc chỉ biến màu hết. Họ lại cũng lấy đồ đựng nước, đem thả cá con vào nuôi, rồi chôn xuông đất vài năm, hễ cá sống thì là đất tốt, cá chết thì là đất xấu".
Cho nên xem cây cỏ tươi hay héo cũng biết được đất tốt hay xấu.
35. Ngày giờ có ngày tốt, ngày xấu; nếu cứ mập mờ mà không kén chọn tất có khi gặp ngày giờ bất lợi; nhưng cũng không sao, vì mình vô tâm. Người đã vô tâm thì không liên quan với quỉ thần. Nếu đã có xem ngày thì phải chọn cho cẩn thận, ngày tốt thì dùng, ngày xấu thì tránh. Nếu đã biết là ngày xấu mà cô ý phạm thì quỉ thần sẽ phạt.
Kinh Dịch nói: Thần đạo không tác động gì, không nghĩ ngợi gì, im lặng không động, có cảm thì mới thông. Việc thiên hạ, nêu không cảm thì sao có ứng. Phép bói bằng cỏ thi hay phép bói bằng mai rùa cũng đều đợi sự vật (việc) có đến thì mới có ứng. Ví như cái gương, không soi thì không thấy gì.
Các phép bói khác cũng thế.
36. Đạo Dịch biến động luôn luôn, không ở một chỗ, đi khắp lục hư (4 phía và trên dưới, hoặc nghĩa khác là 6 hào của quẻ Dịch) lên xuống không thường (không quy luật), cho nên có thể cùng tận được sự mầu nhiệm của lý số. Lý ngụ ở khí, số do ở Lý, lý số ở tâm sinh ra mà tác động đến mọi việc, đó là sự xô đẩy của khí.
Có yên định rồi sau mới lo, lo rồi sau mới được, đó là sự tài thành (làm nên) của khí. Việc đến thì đón lấy để biết ngay từ trước; việc đã qua thì theo dõi để xét về mãi sau; chỉ có đạo Dịch mới thế được. Xưa nay, trị, loạn, thay đổi đều do ở người; những điều người làm đều là những điều trời làm. Khí hòa thì lành, lành thì có điềm hay; Khí trái (gở) thì ác, ác thì có điềm gở”. Hòa hay trái đều có thời đã định mà đến với ta: cho nên đạo Dịch không ngoài một chủ Thời.
Khí có “Cơ” (then máy), nhân ở “Cơ” thấy thời. Khí nào "Cơ” hòa báo trước thì các điều thiện hợp lại làm được các việc thiện, tâm thông, chí đồng, không khó nhọc mà bình trị được. Khi nào "Cơ” trái báo trước, thì mọi điều ác xúm cả lại, làm cho tâm chí chống chọi nhau, mọi việc tơi bời, không phải một người có thể cứu vớt được.
Cho nên, biết Dịch quí ở chỗ biết đạo đầy vơi, tiêu mòn hay nẩy nở, lành hay dữ, hối hay lận, tiến hay thoái, còn hay mất, mà cốt yếu ở chỗ không mất chính nghĩa.
37. Sách Dĩ ngược biên nói: "Về thuật xem sao để đoán số mệnh thì có sổ Tử Bình, số Ngũ tinh và số* Tử vi tiền định. Các sĩ phu thích xem số Tử Bình vì nó ám hợp với lý, nó đoán cho người ta biết số giàu sang, nghèo hèn, phần nhiều được đúng. Nghe như Từ Tử Bình là một ẩn giả, người đời Ngũ quí thường cùng với Ma y đạo giả là Trần Đồ Nam, và Lã Đồng Tân cùng ẩn ở núi Hoa Sơn. Thế thì Tử Bình cũng là một người khác thường vậy.
38. Sách Tử vi đẩu số theo bài tựa của La Luân nói, mới được của Tăng Liễu Nhiên ở núi Hoa Sơn truyền cho. La Luân lại tự xưng là cháu xa đời của Hi Di (Trần Đoàn tức Đồ Nam). Nhưng xét trong sách Hoạch mạn lục của Trương Thuấn Dân, đời Tống, thì Hi Dí chỉ có sách Nhân luân phong giám lưu hành ở đời bấy giờ, là sách mà hậu nhân góp nhặt những lời nói của người làm thành ra; không nói gì đến sách Tử vi đẩu số cả. Những lý số nói trong sách Tử vi đẩu số ấy cũng hẹp hòi, hẳn là hậu nho gán nó cho của Hi Di, không phải là bản thật. Nếu quả là sách Hi Di, thì sao từ Tống đến Nguyên, trong khoảng bốn, năm trăm năm, không truyền ra đời, mà mãi đến đời Minh mới thấy xuất hiện? Những người hiểu biết nên xét kỹ lại.
39. Sách Giáp ất thặng của một nho giả đời Minh nói rằng: “Ở Kinh đô có bản sao sách số Tiền định, bàng lối thơ thất ngôn lòi lẽ quê mùa, giống như kẻ nhắm mắt nói mò ở chỗ chợ búa đời nay. Trong sách đó nói đủ các việc về cha mẹ, vợ con, anh em, sang hèn, ai nghe cũng kinh hãi cho là thần dị, dù các bậc công khanh (quan to trong triều) cũng đều tin phục, cho là Thiệu Nghiêu phu phục sinh! Có biết đâu sách ấy là của một ông thầy bói ở Kinh đô soạn tập để lừa bịp người ta: hắn dò la ngày sinh tháng đẻ và lý lịch của người ta, rồi chép sẵn thành tập, khiến người ta tự tra tìm được sang hèn, thọ yểu, khiến người ta kinh hãi đó thôi!” Nói thế rất đúng, vì trời phú mệnh cho mồi người một khác, lẽ nào chỉ đem năm nào, giờ nào ra mà tham hợp phán đoán rồi lấy một vài câu ca, định dược lành dữ, họa phúc của thiên hạ. Không nói gì văn lý thô bỉ, mà đến cả cách đoán số mệnh cũng chưa thấy ai nói lỗ mỗ như thế bao giờ! Nhưng trong sách nói đến danh lợi được hay mất, tính Khí hoãn hay cấp đường đời hiểm hay bằng, phúc đức hậu hay bạc của người ta, đều là những câu nói đầu lưỡi, người đời không chịu suy xét, cho ngay là thực mà vội quá tin.
40. Sách Thạch lâm yến ngữ nói: 'Tống Thái Tổ khi còn hàn vi, thường vào miếu thờ Cao Tân, thấy trên hương án, có một bộ chén tre xem bói, nhân lấy xuống để bói xem danh vị của mình ngày sau thế nào”. Người đời thường cho là, khi gieo quẻ thấy một cái chén sấp, một cái chén ngửa (tức là xin âm dương), gọi là thanh hào.
Sách Tính lý gia lễ nói, ngày xem bói, phải đốt hương rồi hơ bộ chén ấy vào khói hương, khấn xong gieo quẻ xuống mâm, hễ thấy cái sấp cái ngửa là tốt.
Ngày nay gọi bói thế là xin âm dương cũng vậy.
41. Sách Tựu nhật lục nói, Đào Tiềm có nói: "Trước mặt người ngây (si) không nên nói chuyện mộng; trước mặt người trí thức (đạt lý) không nên nói chuyện mệnh; phàm người ta có bụng càn dở thì bị ngũ hành làm mê hoặc, có bụng thiên tư thì bị quỉ thần kiềm chế". Nhời nói ấy rất đúng. Khi mơ mộng, điều gì trông thấy đều ảo cảnh (hão huyền) chưa hẳn tin cả được; nhưng cũng có khi sự lành sự dữ được báo cho biết trước, linh nghiêm như tiếng vang, một lời chiêm đoán, quỉ thần đã ứng ngay, quan hệ không phải là nhỏ. Nếu đem chuyện mộng nói với người ngây, lỡ họ đoán càn, tất sinh ra việc không hay. Đến như mệnh số là sự huyền diệu, người bậc trung trở xuống vị tất đã hiểu thấu được.
Sách Luận ngữ có nói: Đạo hưng hay suy đều do ở mệnh. Nghiêm Quân Bình xem bói ở chợ đô thị chỉ bảo người ta lấy điều trung hiếu. Người thường không biết sửa mình, chỉ mơ màng vào sự ích lợi mà khổ tâm cầu cạnh, không được thì đổ cho tại số" mệnh mà không xét lại mình; đối với người hiểu biết mà nói, chỉ tổ cho người ta cười.
42. Việc ở trên trời, không tiếng không hơi, nhưng khi giáng lâm rất chói lọi, mệnh lệnh không thường, mà việc lớn việc nhỏ đều định trước cả. Cái thuyết tiền định, cổ nhân đã từng nói. Những điều mà ta thấy trong Kinh, Sử; thì trên từ Vương, Công, dưới đến làng nước (nhân dân), hoặc mộng, hoặc bói, cùng là câu hát của nhi đồng, lúc mới nghe có vẻ như huyền hoặc, nhưng sau đều thấy ứng nghiệm. Ấy là Số nhưng cũng là Lý.
Sách Tả truyện chép, khi vua Thành Vương nhà Chu đóng đô ở đất Giáp Nhục, bói xem nhà Chu sẽ tồn tại được bao lâu, thì bói thấy được 30 đời và 800 năm, thế mà Vương nghiệp nhà Chu được quá lịch số đã định trưóc.
Ý Thị nước Trần bói, được câu ”Hữu vỉ chi hậu, Tương dục vu khương, Ngũ thế kì xương, Tịnh vu chính khanh, Bát thế chi hậu, Mạc chi dữ kinh"; nghĩa là: "Con cháu họ Hữu Vỉ nước Trần sẽ sinh dục ở họ Khương (nước Tề), đến năm đời thì phồn thịnh, đều làm đến chính khanh. Sau tám đời thì không ai đọ được”. Quả nhiên về sau Trần Kinh Trọng chạy sang nước Tề, rồi con cháu thôn tính nước Tề.
Thúc Tôn Trang Thúc nước Lỗ bói xem con trai là Báo sau này ra sao, bói được mấy câu sau này: “Tương hành nhi qui chủ tự, dĩ sàm nhân nhập, kỳ danh viết Ngưu, tốt dĩ trấm tử. Nghĩa là: Sắp đi mà lại quay về chủ việc tế tự, nghe đứa xiểm nịnh, tên gọi là Ngưu, rồi đến chết vì kẻ nói gièm” về sau quả nhiên như thế.
Hoàn công nước Lỗ xem bói thấy đẻ con trai, tên là Hữu phò giúp công thất. Đến khi sinh, trong bàn tay đứa bé quả có chữ Hữu, lớn lên làm đến chính khanh, đời đời cầm vận mệnh nước.
Bà Ấp Khương nhà Chu mới có mang, Thái Thúc nằm mộng thấy Thượng đế bảo rằng: “Ta cho ngươi một đứa con, đặt tên là Ngu sẽ phong cho đất Đường, thuộc về phân dã sao Sâm, con cháu sẽ phồn thịnh”. Đến lúc đẻ ra, tay đứa bé quả có chữ Ngu, rồi vua Thành vương phong làm Đường hầu, đời đời làm minh chủ các nước hoa hạ (Trung Quốc); hoa hạ là các nước có văn hóa ỏ Trung Châu so với Man Di.
Khổng Văn Tử nước Vệ nằm mộng thấy Khang Thúc bảo mình nên lập con là Nguyên (Bấy giờ Nguyên chưa đẻ) rồi ta sẽ sai cháu của Cơ là Khổng Ngữ và Sử Cẩu giúp việc cho. Sử Triều cũng nằm mộng thấy Khang Thúc bảo mình: "Ta sẽ sai con nhà ngươi là cẩu và Khổng Ngữ giúp Nguyên”. Sau người thiếp yêu của Tương công đẻ con đặt tên là Nguyên, nối ngôi, Cẩu và Ngữ đều làm thượng khanh.
Nàng hầu Trịnh Văn công tên là Yến Cật, nằm mộng thấy sứ trời cho một cành lan và bảo rằng “Đó là ta cho mày làm con”Sau nàng ấy đẻ con đặt tên là Lan, tức là Trịnh Mục công, con cháu phồn thịnh.
Có người nước Tào nằm mộng thấy: Một bọn công tử đứng ở cung mới bàn mưu làm mất nước Tào; Tào Thúc, Chấn Đạc bàn xin đợi, Công Tôn Cương bằng lòng đã. Đến khi Tào Bá Dương lên ngôi, Công Tôn Cương là người nước Trịnh làm quan Tư thành cầm quyền chính, bội nước Tào mà thông với nước Tống, nước Tống bèn diệt nước Tào.
Đời Hiến công nước Tấn, trẻ con thường hát rằng: ”Bính chi thìn, long vĩ phục thìn, quân phục chân chân, thủ Quắc chi cân; thuần chi bôn bôn, thiên sách đôn đôn; hỏa cân thành quân, Quắc công kỳ bôn”. Nghĩa là: Sáng ngày Bính Thìn, mặt trời mặt trăng gặp nhau ở phân dã sao Vĩ, cho nên sao Vĩ không hiện; quân đội ăn mặc một màu, trông rất oai vệ, đi lấy cờ cân của nước Quắc. Sao Thuần nhấp nháy sao Thiên Sách tờ mờ, sao Hỏa cân thì nên quân, Quắc công phải bỏ nước chạy, về sau Tấn Hiến công đánh nước Quắc, ngày tháng đúng như lời đồng dao trên đây.
Đời Văn Công nước Lỗ, trẻ con hát rằng: “Cồ dục chi vũ, công tại ngoại dã, vãng quĩ chi mã; cổ dục thù thù, công tại Can hầu, trưng kiến dữ nhu; cồ dục lai sào, viễn tai dao dao, Trù phủ táng lao, Tống phủ dĩ kiêu”. Nghĩa là: “Cánh chim sáo tung bay, Chiêu công ở ngoài đồng, tặng công con ngựa. Chim sáo nhảy nhót, công ở Can hầu, đòi xiêm (quần) cùng áo cánh; chim sáo làm tổ, xa lắc xa lơ. Trù phủ (Chiêu công) nhọc nhằn, Tống phủ (Định công) kiêu căng”. Rồi sau, quả có giống chim sáo đến làm tổ ở nước Lỗ, Chiêu Công (Trù Phủ) bỏ nước chạy, Định Công lên nôi ngôi, đúng như lời trẻ hát.
Cuối đời Chu Định Vương, có người nước Tấn bị yêu giáng, nói: “Chu kỳ hữu tỳ vương, diệc khắc tu kỳ chức chư hầu phục hưởng, nhị tế cung chức vương thất, kỳ hữu gián vương vị, chư hầu bất đồ nhi thụ kỳ loạn tai". Nghĩa là: Nhà Chu có ông vua, sinh ra đã có râu, cũng làm trọn chức vụ, chư hầu đều phục theo hai đời cung chức nhà Chu; có kẻ dòm ngôi vua, chư hầu không nghĩ đến, mà chịu tai loạn. Về sau, quả nhiên vua Linh Vương sinh ra đã có râu, mà chư hầu đều kính mến; con là Cảnh Vương cũng được trọn đời (ứng vào câu nhị thế...). Đến khi Kinh Vương lên ngôi thì Vương Tử Triều quả nhiên tiếm vị (ứng vào câu gián Vương vị) bị đánh bại chạy sang nước Sở.
Sách Sử ký chép: “Mục công nước Tần bị bệnh quyết (bệnh chân tay lạnh buốt) ngủ suốt năm ngày, khi mới tỉnh dậy, nói rằng: Ồng nằm mộng thấy đấng Thượng đế sai ông bình loạn nước Tấn. Rồi sau, quả nhiên ba lần Mục công lập vua cho nước Tấn.
Cuối đời Tuyên Vương nhà Chu, trẻ con hát rằng: ”Yểm hồ, cơ phục, thực vong Chu quốc”. Nghĩa là: Cung làm bằng gỗ dâu trên núi, túi đựng tên làm bằng gỗ cơ, thực làm mất nước nhà Chu. Đến sau quả nhiên có hai người bán hai thứ cung và bao tên ấy, vua sai bắt, thì họ chạy sang đất Bao, nhận nuôi nàng Bao Tự, tiến cho U Vương gây nên cái họa ở Ly Sơn.
Căn cứ nhũng việc kể trên mà nhận định, thì không những số vận lớn của nhà nưóc, hưng hay suy, mà phận mệnh thường của sĩ phu, cùng hay đạt, cũng được dự định ở trong chỗ u minh. Đến cả như họ tên, tướng mạo, đi đứng, động tĩnh cũng đều có định trước, không phải người ta được tự do muốn sao được vậy.
Sách Trung dung nói: "Đạo chi thành có thể biết trước được". Nhà nước sắp thịnh, tất có điềm lành; nhà nước sấp mất, tất có điềm dữ (yêu nghiệt), hiện ra trên quẻ bói thi hay bói rùa (thi qui), động ở chân tay. Họa phúc sắp đến, điềm lành hay không lành tất nhiên biết trước, vì một điểm linh tâm của người, quỉ thần đã cảm thông mà báo cho biết trưóc.
Cuối đời Tây Hán, các thuật sĩ truyền lại các sách Sấm Vĩ, sách ấy đoán nhà Hán sẽ lại phục hưng chép rõ tên vua Quang Vũ. Lại nói: ''Vận mệnh họ Xích Lưu đến đời thứ 9 (từ Hán Cao tổ đến Quang Vũ là 9 đời) lại thụ mệnh ở núi Đại Tông” (Thái Sơn), sách Sấm Vi nói thế thực là rõ rệt. Những người thông thái biết trước xét sau làm ra sách vở để dạy đời sau, vẫn có nhiều điều nói đúng. Duy các vua chúa thì nên giữ gìn lòng thường, đức thường không nên nói những điềm lành và thuật sô để thêm sự ngu hoặc cho dân chúng. Cho nên Lý Nghiệp Hầu nói rằng: "Người thường còn có thể nói về số mệnh trời được; đến như vua chúa và tể tướng thì không nên nói đến”.
Đó chính là Lý.
43. Trong khoảng vũ trụ chỉ có một Lý mà thôi; cái gì người ta thường thấy thì tin, cái gì chưa thấy bao giờ thì ngờ.
Sách Trúc phả của Đái Khải Chi đòi Tấn nói: "Trời đất vô biên, thương sinh vô lượng. Ngưòi ta nghe-thấy cái gì, nhân theo nếp cũ mà làm rồi mới biết”. Nói thế không đúng. Nếu cái gì mà tai không nghe thấy, mắt không trông thấy đều cho là không phải, chẳng hóa ra là ngu xuẩn lắm ru!
Sách Gia huấn của Nhan Chi Thôi đời Tề nói: "Vua Vũ đế không tin có thứ keo có thể nối liền được dây cung; Ngụy Văn hầu không tin rằng lấy lửa giặt được vải, người rợ Hồ thấy gấm mà không tin có thứ sâu ăn lá cây nhả ra tơ, tơ ấy dệt thành gấm. Xưa kia ở đất Giang Nam, người ta không tin có thứ màn bằng chiên có thể để cho hàng nghìn ngưòi nầm vừa; đến khi tới Hà Bắc lại không tin có thứ thuyền chở được hai vạn thạch (hộc).
Đó là chứng cớ rõ ràng.
Lấy thuyết ấy mà suy, ta có thể biết rằng sự vật không thể biết hết được. Trên từ bầu trời, dưới đến bờ cõi, có hình có tượng, quái lạ muôn vẻ, lấy ý mà lường thì uổng phí tinh thần, lấy lời nói mà biện bạch thì thêm điều miệng lưỡi đến chỗ thực tế thì không ăn thua gì cả.
Cho nên cái học của người quân tử chỉ noi theo lẽ thưòng mà thôi.
44. Người đời xưa bảo: ở biển Nam, Bắc, Đông, Tây có thánh nhân ra đời, bụng ai cũng nghĩ như nhau, cũng lý luận như nhau. Quốc vương nước Hồi Hồi là Mặc Đức Na dựng nước vào đời Khai hoàng nhà Tùy, có làm ra một pho sách dạy làm lịch và xem thiên văn. Người các nước Âu La Ba (Europe) ở Tây dương như Lợi Mã Đậu (tên giáo sĩ Mateo Ricci) Nam Hoài Nhân (giáo sĩ Ferdinandus Verbiest) và Ngải Nho Lược (Guiles Aleni) có sang Trung Quốc vào đời Vạn Lịch nhà Minh. Họ đàm luận về trời đất một cách sâu sắc mới lạ vô cùng, lý luận chính trị và lịch pháp của họ cũng có nhiều điều mà tiền nho ta chưa tìm ra nói ra được. Tuy tiếng nói và chữ nghĩa của hai bên không thông hiểu nhau, nhưng nghĩa lý uẩn súc ở trong tâm thân, tài thức đầy đủ về học hỏi, thì không khác gì với Trung Quốc.
45. Học thuyết của tiên gia, chuyên nói về luyện Hình; học thuyết của Phật gia, chuyên nói về luyện Thần. Hình với Thần đều nhờ có Khí mới đứng vững được: Khí tụ thì đạo mới thành, Khí tán thì đạo không thành. Lấy mặt trời, mặt trăng làm thí dụ: Tiên gia thì như chất của nó, Phật gia thì như bóng của nó, chất đi ở trên không, hạn là có; bóng tan ở trong nước, hẳn là vẫn còn.
46. Trương Trạm đời Tấn, làm bài tựa sách Liệt tử có nói: “Đại lược sách ấy nói rõ mọi tồn tại (hữu) đều lấy chỗ rất hư không làm chủ; mọi phẩm vật đều lấy chỗ tiêu diệt hết làm thể nghiệm; thần tuệ thì lấy ngưng tịch mà thường toàn, tưởng niệm thì lấy chấp nê vào vật mà tự nhiên hỏng mất; còn những tri giác và hóa mộng thì ý nghĩa cùng tham bác với kinh Phật”.
Thật đúng như vậy. Xem trong Liệt tử có chép chuyện Lâm Loại đáp Tử Cống rằng: “Cái chết với cái sống một đàng đi một đàng về; chết ở nơi này, biết đâu chẳng sinh ra ở nơi kia”. Vậy thuyết luân hồi đã có từ trước đời Hán, chứ không phải mới thấy trong kinh Phật (Trúc điển). Thánh nhân (Khổng Tử) không nói đến việc thần quái, ngài lại nói: "Chưa biết sự sống, sao biết sự chết?”. Vậy những thuyết về loại sống, chết ấy hãy cứ để đó mà không bàn đến cũng được.
47. Kinh Phật có thuyết Luân hồi mà nhà Nho thường không tin; nhưng xưa nay những sự mà người ta tai nghe mắt thấy, ghi chép cũng nhiều, thì không kể hết được, thực ra không phải không có lý ấy. Khổng Tử nói: “Đức quỉ thần rất thịnh, trông không thấy, lắng cũng không nghe, mà rờn rợn như ở trên, như ở bên tả bên hữu". Thuyết âm ti địa giới tựa như hoang đường, nhưng tóm lại là do ở sự huyền bí của tạo hóa sự chia cách giữa âm dương làm cho người ta không trông thấy, không nghe thấy đó mà thôi. Lúc tế lễ, quỉ thần giáng lâm, thể phách tuy tán đi, nhưng thần thức vẫn còn tụ lại. Những chuyện bẩm thụ hình thể, đầu thai làm người, nói trong kinh Phật, cũng là thần thức đó thôi.
Tinh mặt trời, mặt trăng giáng xuống thành nước lửa, khí nước lửa bốc lên thành sấm gió, diệu dụng biến hóa của trời, đất, đi đi lại lại không lường được, huống chi là người ta.
48. Bộ sách Tả truyện chép nhiều việc thần quái, như là Cung Thái Tử nước Cung thác vào lời đồng bóng quở phạt Huệ công, tức là thuyết “Thiên Tào phán sự". Trung Hằng Yên nằm mộng thấy kiện nhau với Lệ Công tức là thuyết "Địa ngục câu đối”. Tề hầu nằm mộng thấy con lợn to, Tấn hầu nằm mộng thấy con là ác quỉ, cùng với việc Lương Tiêu và Hồn Lương Phu làm ma về quấy, tức là thuyết "Oan quỉ đến báo thù”. Tử Dư đem mộng ra nói để bảo tồn cho Hàn Quyết. Một ông lão nhờ Ngụy Khỏa gả chồng fho con gái mình mà kết cỏ đền ơn đó là Khí với mạch của hai ngưòi cùng cảm thông với nhau. Vệ hầu nằm mộng thấy Khang Thúc cho biết Đế Tướng cướp mất sự hưởng tự, Tấn hầu nằm mộng thấy ông Cổn nhà Hạ (Bố ông Hạ Vũ) hóa làm con gấu vàng vào cửa phòng ngủ. Thế thì những người tiên viễn (tiền bố rất xa xưa) cũng còn để lại có bóng cái vang. Những việc cũ đời Chu, nay còn khảo sát được cả.
Trong khoảng vũ trụ, âm dương, tối sáng, tuy khác đường, nhưng tình vẫn là một, lẽ ấy thực có.
49. Kinh Dịch nói: Tinh Khí là vạch, Du Hồn là biến, thế cho nên biết được tình trạng của quỉ thần. Nghĩa chữ “quỉ” là khuất (co lại), nghĩa chữ “thần” là thân (duỗi ra). Co mà hay duỗi, vì thế thiêng liêng mà làm thần. Cho nên Lão Tử nói: ''Lấy đạo mà trị thiên hạ, quỉ sẽ không thiêng là nói âm với dương, tối với sáng, đều có định vị, không xâm lấn nhau".
50. Thánh nhân biết rộng, không gì là không xét rõ. Xem như sách Khổng Tử gia ngữ chép những chuyện sau này:
Tiết chuyện xa là biết được bộ xương chở đầy xe (Chuyện này thuật trong chương Biện Vạt: Lúc Ngô Phù Sai đem quân đánh nước Việt, phá núi Cối Kê, gặp một bộ xương phải chở đầy một cỗ xe mới hết. Phù Sai lấy làm lạ bèn đem hỏi Khổng Tử thì được biết đó là xương của Phòng Phong. Nguyên do là khi vua Hạ Vũ hội quần thần ở Cối Kê, Phòng Phong đến muộn nên bị chém).
Đạo khổ thỉ là nói được điển tích cái tên làm bằng gỗ khổ (Chuyện về chim duẩn - một loài cắt, ưng – đến đậu ở sân nhà Trần hầu thì chết do mũi tên gỗ khổ cắm xuyên mình. Người nhà Trần hầu hỏi Khổng Tử thì được biết đó là loại tên của Túc Thận đem cống cho Vũ vương).
Biện Quì Võng Phần Dương là biết được cái tên quái vật là Quì Võng và Phần Dương (Chuyện là, Quý Tương đào giếng nhặt được vật lạ, đem hỏi Khổng Tử thì biết đó là giống quái Mộc Thạch gọi là Quỷ Võng và thổ quái gọi là Phần Dương).
Khổng Tử không phải là không nói những sự kỳ quái, nhưng ngày thường không muốn nói đến, là không muốn làm học giả mê hoặc. Thật ra có phải những chuyện ấy cho là không có đâu.
Đáng khen Quách Phác khi làm tựa sách Sơn hải kinh có nói; ''Giữa khoảng vũ trụ mênh mông, quần sinh đầy dẫy, âm dương hun bốc, vạn vật phân biệt, tinh khí hỗn độn phun xát lẫn nhau, du hồn, linh quái xúc động mà thành tượng, lưu hình ở núi sông, để dạng ở gỗ đá, không kể xiết được”. Bài tựa ấy lại nói: “Vật gì cũng vậy, tự nó không lạ, đợi người nói đến mới hóa ra lạ; vậy cái lạ là tự ta, chứ không tự vật; vì cái gì thấy luôn thì tin, còn cái gì ít khi nghe thấy, nói đến thì cho là lạ. Đó là cái mà thường tình thường bị che lấp”. Lời nói ấy là lời bàn xác đáng cho nghìn đời.
51. Trình tử nói: "Ngày xưa xem bói là để quyết sự nghi ngờ, đời sau thì không thế: họ xem bói chỉ cốt cho biết bệnh của mình sẽ cùng hay thông, thân của mình có đạt hay không mà thôi". Riêng tôi nghĩ rằng thánh nhân đặt ra bói toán, cốt để cho người ta quyết hiềm nghi, định do dự chứ không phải để dạy người ta cầu cạnh lợi đạt. Cho nên thánh nhân đặt ra kinh Dịch, không phải để cho kẻ tiểu nhân mưu lợi. Nhưng, cũng có khi, nghi ngờ điều gì muốn hỏi quỉ thần, như Tất Vạn bói việc làm quan ở nước Tấn. Trùng Nhĩ bói việc ở ngoài về nước, tuy vì mình, nhưng không hại gì chính nghĩa.
52. Làm nhà cửa kỵ phương hướng Thái Tuế. Tông Thái Tổ nói: “Phía tây cửa đông gia tức là phía đông cửa tây gia, thế thì sao Thái tuế ở chỗ nào?” Nói thế là không phải. Thần trong một năm là một Khí thiêng; Khí thì đi trên trời, chứ không phải ở dưới đất. Cứ theo thuyết của Tống Thái Tổ thì gọi phía tây có lẽ đến tận Tây Hải mới thôi. Thế thì ngoài Tây Hải lại còn có đất nước nữa, lại phải lấy đấy làm phía đông. Làng nước dân cư đều có giới hạn: có đông, tây, nam, bắc của cả thiên hạ, có đông, tây, nam, bắc của cả một nhà.
Việc tu tạo nhà cửa, vô tâm thì thôi; nếu đã xem phương hướng, mà thấy mình phạm thần sát, hay là ngưòi ta nói phạm hướng thần sát, mà cứ làm bừa đi thế là bất kính, sao gặp được sự hay?
53. Lưu Khang Công nói: “Nhân dân được Khí trung hòa của trời đất mà sinh ra, thế gọi là mệnh; cho nên có những phép tắc về động tác, uy nghi để an định mệnh trời”. Kinh Dịch nói: "Cùng lẽ hết tính rồi đến mệnh, chữ mệnh ấy tức là Giáng trung (trời phú cho sự lành), cũng gọi là bỉnh gi (giữ đạo thường) và là minh đức (đức sáng). Còn đời sau nói đến chữ Mệnh thì họ chỉ nghĩ đến sự cùng hay đạt, được hay mất, vinh hay nhục mà thôi.
Cổ nhân xem bói, không những chỉ dùng cỏ thi. Sách Ly tao (của Khuất Nguyên nước Sở) có câu rằng: ”Sách quỳnh mao dĩ đình chuyên hề mệnh Linh Phân vi dư chiêm”… Nghĩa là: Tìm cỏ quỳnh mao để xem bói cỏ tre, sai ngươi Linh Phân bói cho ta xem.,, Sách chua: “Linh Phân là tên một thầy bói hay thời bấy giờ. Đình là tre chẻ nhỏ. Ngưòi nưỏc Sở hay kết cỏ, chẻ tre, để xem bói; gọi là chuyện”.
Nghiệm sự đã qua, xét sự sắp tới, trong đó có thần linh thông giải; đừng tưởng một thứ cỏ nhỏ nhặt là không quan hệ gì!
Kinh Phòng lấy tiền gieo quẻ, chia ra âm dương, để lấy "thế, ứng" đời sau bắt chước. Còn ỏ những nơi phương xa, tục lạ lại có cách bói ngói (gõ vào đồ gốm, sành để nghe tiếng kêu mà bói điều lành dữ - ngõa bốc), bói gà, bói quạ, bói nghe tiếng ngưòi nói (Hưởng bốc – nghe âm vang tiếng người nói đêm 30 Tết để xem điềm) cũng đều biết trước được sự lành dữ; vì rằng không có cái gì là không có lý ở trong cả.
1. Về thuyết “Trời xoay về bên tả, mặt trời, mặt trăng và ngũ tinh (năm sao Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa) chuyển về bên hữu, xưa nay cãi lộn nhau đã nhiều. Nhưng theo câu trong kinh Dịch: "Trời đất thuận chiều mà chuyển động, cho nên mặt trời, mặt trăng đi không quá độ, bốn mùa không sai” ta cho rằng cứ lấy câu ấy mà đoán cùng đủ.
Ở trên mặt đất mà xem, ta chỉ thấy thất diệu (Nhật nguyệt và ngũ tinh) đi về phía tả, chứ có thấy chuyển về phía hữu đâu? Bây giờ trở ngược lại mà suy đoán, cho hợp với trời, thì không chỗ nào không có thể bảo là thuận động.
2. Sách Chu lễ nói, họ Bảo chương lấy đất thuộc các phận sao mà phân biệt đất chín châu; mỗi khu vực phong cho chư hầu đều có địa phận từng sao để xem điềm lành dữ; nhưng sách ấy không còn truyền lại. Ban Cố đời Hán theo lịch Tam thống (phép làm lịch trong sách Tam Thống lịch phả của Lưu Hâm từ thời Thái Sơ -104BC - nhà Hán) lấy 12 triền thứ (trạm nghỉ, cung độ) phối hợp với 12 phân dã các vì sao. Trần Trác là quan thái sử nước Ngụy lại nói rõ: quận nào nước nào thuộc vào độ số các vì sao nào. Hoàn Vũ to như thế, có chắc hẳn các quận, các nước ở Trung Châu đương hết được không?
3. Sao Giốc, sao Trương, sao Cang chiếm ít độ thì phân dã hẹp. Sao Đẩu, sao Ngưu, sao Cơ, sao Tỉnh chiếm nhiều độ thì phân dã rộng. Đó là lẽ tất nhiên. Đến như Tây Vực, Bắc Minh không biết đến đâu cùng tận. Ngoài phía đông nam Minh Hải, Bột Hải còn có nhiều đất nước cách Trung châu đến mấy vạn dặm, sao không ứng vào một vì sao nào trên trời?
Cho nên, Nhan Chi Thôi nói rằng: “Lúc mới thành lập trời đất đã có tinh tú; lúc đó chưa vạch ra chín châu, chưa chia ra các nước, cất đặt ra cương giới, khu dã, có chỗ gọi là triền thứ của các sao. Từ đời Phong kiến (nghĩa cổ từ thời Hạ Thương Chu lấy đất mà phong tước Công, Hầu được 100 dặm, tước Bá được 70 dặm, tước Tử, Nam được 50 dặm) về sau, mới có qui chế cắt đặt (đến đời Tần thì đặt ra quận huyện). Số các nước có tăng có giảm, nhưng các vì tinh tú không hơn không kém. Còn sự ứng hiện của điềm lành dữ, họa hay phúc, nếu như không sai thì bầu trời to thế, tinh tú nhiều thế, phân dã từng tinh tú thế nào, tại sao lại chỉ liên hệ với Trung quôc mà thôi? Sao Mã là sao Mao đầu (nghĩa đen là kẻ tiên phong) triền thứ của nó là nước Hung Nô. Còn các nước Tây vực, Đông Di, Điêu Đề, Giao Chỉ, thì sao lại bị bỏ rơi, không nói đến?
Cứ thế mà suy xét tìm tòi, không bao giờ xong được.
Nhà sư Nhất Hành nói rằng: “Sông núi trong thiên hạ, ỏ về phía Nam phía Bắc còn thấy mênh mông. Nay xem như Bắc Định thì thuộc vào phân dã sao Mão, Triều Tiên thì thuộc vào phân dã sao Cơ, Giao Chỉ thì thuộc vào phân dã sao Chẩn sao Quỉ, còn các bộ lạc ngoài ải xa thì tùy chỗ tính tú gặp nhau". Nói thế cũng là phỏng theo thuyết cũ mà thôi.
4. Nhà Thành Chu trước đóng đô đất Mân, đất Kỳ, sau đóng ở đất Phong, đất Cảo. Địa phận nước Tần, sau này là đất của nhà Chu. Bấy giờ nhà Chu chia đất, phong cho 18 nước chư hầu: các nước Tống, Tề, Tấn, Vệ, Hàn, Yên đều là các nước lớn cũ; các nước Tần, Trịnh đều là nước lớn mới; Ngô, Sở, Việt, Vệ, Thục đều là nươc nhỏ cũ, sau này mới lớn lên. Còn nước Triệu là một quan khanh nước Tấn, sau mới được phong, mới lấy tên họ đặt làm tên nước Tạo Phủ, nước Triệu, khi mới lập ấp ở thành chẳng qua là một nước phụ dung (phụ thuộc, do nước nhỏ, diện tích < 50 dặm vuông) mà thôi. Hai ông họ Cam, họ Thạch làm Tinh kinh (Sách xem các vì sao), trong đó có nói: “Trên Thiên Viên có các vì sao ứng vào địa phận nhà Chu và các nước Tần, Trịnh, Việt, Hàn, Ngụy, Triệu, Tề, Yên, Vệ, Thục, Ba, Lương, Sở; nước nào thấy phân dã sao có sự biến động xâm phạm thì nước ấy có sự không lành". Không biết nói thế có đúng không?
5. Trước thời Xuân Thu, các nước lớn nhỏ lẫn lộn; vua nhà Chu đóng đô hai nơi; vậy thì sách của Tinh quan (quan coi thiên văn) căn cứ vào đâu mà xem?
Theo ý riêng ta: lúc bấy giờ, họ Bảo chương lấy tinh thổ (đất thuộc các phân dã sao) chia rõ phong vực chín châu; mỗi châu đều có tinh phận nhất định, có sách ghi chép. Sách ấy nay bị mất rồi. Nhưng, cổ nhân xem Khí hậu đã có phép hay, cho nên Sĩ Văn Bá thưa với Tấn Hầu rằng: "Sáu vật (Tuế, thời, nhật, nguyệt, tinh, thần) không giống nhau; nhân dân mỗi người một dạ; thứ tự việc làm không cùng một loại; chức vụ các quan không phải có một qui tắc; trước thì giống nhau rồi sau khác hẳn, sao có bình thường được”. Vòng trời 365 độ với 1/4 độ, chia làm 12 vi thứ, dưới ứng với chín châu; muôn nghiệm lành dữ thì phải xem chỗ đất "thượng đức" và “thừa vượng" mà tiên vương đã đóng đô.
Các nước chư hầu đã được nhà Chu phong cho, lúc mới nhận chức và tên họ, dựa vào độ số, hành trình của năm vì sao Ngũ Vĩ (năm đường ngang mà ngũ tinh hành vận) mà suy tìm so đọ để làm cho cõi đất hợp với vị thứ các sao trên trời.
Xem các sách Tả truyện và Quốc ngữ (2 cuốn của Tả Khâu Minh đời Xuân Thu) ta sẽ biết được đại lược việc nói trên. Như nói: ''Vua Nghiêu dời Át bá ra đất Thương Khâu, chủ vể sao Thần. Người nhà Thương nhân đó mà theo, cho nên Thần là sao thuộc vê đất Thương. Đổi Thực Trầm ra đất Đại Hạ, chủ về sao Sâm (thuộc phân dã sao Sâm). Người nhà Đường nhân đó mà theo, cho nên Sâm là sao thuộc về nước Tấn.
Các sách lại nói: Vị thứ sao Đại Thần (ba sao Phòng, Tâm, Vĩ) thuộc nước Tống, sao Thái hiệu thuộc nước Trần, sao Chúc Dung thuộc nước Trịnh, đều là Hỏa Phòng, Vị thứ của sao Chuyên Húc ở nước Vệ, tinh của sao này là hư không, vì nó vượng về thủy".
Cũng các sách ấy lại cho biết: chức hỏa chính đời Đào Đường, là Át Bá, ở đất Thương Khâu, giữ việc thờ thần Đại hỏa, mà lấy đức hỏa chép tuế thời; ông Tướng thổ, nhân đó mà theo, cho nên nhà Thương lấy Đại hỏa làm chủ.
Lại cho biết: Tuê vận ở tinh Kỷ (tên tinh thứ ngang với sao Nam đẩu, sao Khiên Ngưu va sao Tú Nữ) mà đi trái đường vào vị thứ Huyền Hiệu, là tinh phận của nước Tống, nước Trịnh, thì đất sẽ bị nạn đói. Lại nói: Tuế tinh năm nào bỏ vị thứ mà trọ ở vị thứ năm sau, phạm vào triền thứ Điểu nô, là điềm không hay cho nhà Chu và nước Sở. Lại nói rằng: "Họ Chuyên Húc nước Trần, mà tuế tinh là Thần hỏa, thì mất nước; Tuế tinh ở vị thứ Tích mộc, thì có cơ Phục hưng. Mặt trời chiếu vào vị thứ sao Thuần hỏa thì nước Trần sẽ mất, mặt trời ra khỏi vị thứ sao Vụ, sao Nữ thì vua Tấn sắp chết; Tuế tinh ở Đai Lương thì nước Thái phục lại, nước Sở mắc nạn. Vua Vũ Vương đánh được nhà Thương vì tuế tinh ở Thuần hỏa; Văn công nước Tấn lấy lại được nước là vi tuế tinh ở vị thứ Thực trầm”.
Tất cả mọi việc kể trên đều ứng với thiên tượng cả, có phải như đời sau xuyên tạc nói dựa đâu?
6. Năm thứ ba, đời vua Nhị thế nhà Tần, (207 BC), năm sao Ngũ hành tụ họp ở vị thứ sao Đông Tỉnh, quay lưng về phía Nam đẩu, Có người nhận xét rằng: Đông Tỉnh ở về phận dã nước Tần tức là phận dã Mùi, sao Nam đẩu ở về phận dã nước Việt tức là phận dã Sửu. Sửu xung khắc với Mùi; Tần mất vượng khí, thì Việt được Bá khí; cho nên Triệu úy Đà ứng vào thiên tượng ấy mà làm nổi lên (Triệu Đà làm quan Úy nhà Tần, sau khi chiếm nước Nam Việt, thấy nhà Tần mất liền xưng là Nam Việt Vũ Vương).
7. Các nhà làm lịch xưa nay, đều có căn cứ cả: lịch Thái sơ (lịch do Đặng Bình làm, còn gọi là Luật Lịch, làm năm Thái sơ nhà Hán, 104 BC) căn cứ vào âm luật (âm nhạc); lịch Đại diễn (tăng Nhất Hành, đời Đường, làm) căn cứ vào phép bói bằng cỏ thi; lịch Thụ thời (do Hứa Hành và Quách Thủ Kính làm thời Hán Nguyên đế) căn cứ vào bóng mặt trời.
Mỗi nhà trên này chủ trương một thuyết riêng; nhưng, tóm lại, thì lịch Thụ thời hơn cả, vì tượng có trước số, số ở sau tượng; tham khảo âm luật và bói thi (chung luật, thi sách) để nghiệm tượng trời thì được, nhưng khảo sát thiên tượng để phối hợp vối âm luật và phép bói bằng cỏ thi thì không khỏi khiên cưỡng. Quĩ ảnh, lấy cọc đánh dấu, đo bóng mặt trời là thiên tượng rõ ràng nhất; dựa vào đó, lượng đo kỹ càng, để lấy Khí trung bình của trời, không nương tựa xê xích vào đâu, thế mới đúng với độ trời.
Thuyết trung tinh cơ hành (sao nào đi đến giữa trời gọi là trung tinh, còn cơ hành là 2 dụng cụ làm bằng ngọc của vua Thuấn để đo lường thiên tượng) trong Ngu thư (năm chương trong Kinh thư chép về đời Ngu, từ chương Nghiêu điển đến chương Ích Tắc) cũng suy tính dựa theo bóng mặt trời.
8. Các nhà làm lịch đều lấy nửa đêm ngày Giáp Tí, mồng một tháng Tý (Một, 11) là tiết Đông Chí làm đầu lịch. Thiệu Khang Tiết lấy ngày Giáp, tháng Tý, sao Giáp, giờ Thân làm số Nguyên hội vận thế; không kể gì ngày sóc hư và tháng nhuận, mà lấy 360 ngày làm một năm, thế là nói có chỗ căn cứ.
Hoài nam tử nói: “Mỗi luật có 5 tiếng, 12 luật là 60 tiếng, lại nhân với 6, thành 360 tiếng để đương đốì vói số ngày trong một năm”. Phép làm lịch của người Tây Dương (Âu châu) cũng lấy số 360 làm độ chu thiên, có 96 khắc làm một ngày, khiến cho mỗi giờ đều tám khắc, không có số lẻ, để tiện suy tính; phép ấy rất là giản tắt.
9. Thuyết Thanh đạo Xích đạo xuất xứ ở sách Vĩ thư Dịch kê lãm đồ (sách nói về thiên văn lịch toán, quái khí kinh Dịch và phép suy bộ mặt trời, sau tăng Nhất Hành dựa vào đó mà làm lịch). Thuyết Địa hữu tứ du xuất xứ ở sách Vĩ thư khảo linh diệu (tên một bộ sách về địa học. Sách này nói đất có tứ du thường động mà ngưới ta không biết. Nhưng sách Nhĩ nhã, chuyên nói vê thiên vẳn lại chép; ngoài nhị thập bát tú, lại có trên dưới, đông, tây mỗi phương 15.000 dặm, gọi là tứ du).
10. Trong thiên Qui tâm, Nhan Chi Thôi nói ràng: "Trời là tinh khí, mặt trời là tinh của Dương khí, mặt trăng là tinh của Âm khí, các vì sao là tinh của muôn vật. Cái mà nho gia hiểu được: mảnh ngôi sao rơi xuống là đá rơi xuống đó. Một vật ở xa và to mà người ta không đo lường được, không gì bằng trời. Sao sa xuống, nếu là đá thì không có sáng, chỉ có chất nặng, bấu víu vào đâu? Đường kính một vị sao, to đến trăm dặm; một chùm sao, đầu đuôi cách nhau đến vài vạn trăm dặm; mấy vạn ngôi sao chi chít với nhau, rộng hẹp dọc chếch thường không co nở. Vả lại, mặt trời, mặt trăng với các ngôi sao cũng một sắc sáng, chỉ có lớn nhỏ khác nhau mà thôi, thế thì mặt trời, mặt trăng cũng là đá ư? Đá đã rắn chắc, thì Kim Ô, Ngọc Thố (quan niệm xưa trên mặt trời có Quạ vàng, trên mặt trăng có Thỏ ngọc) ở vào đâu? Đá ở trong không khí, tự nó vận động sao được.
Ta thì cho rằng: sao ở trên có sáng, cái sáng đó là khí; khi vừa sa xuống bị gió lạnh buốt ở lưng chừng trời táp vào mối đọng lại thành đá, chứ không phải sẵn là đá ở trên trời rồi.
Mặt trời, mặt trăng cũng là tinh Khí tích lại mà có sáng, và to lớn đó thôi. Sao là tinh Khí của vạn vật, cho nên sa xuống hóa ra đá. Mặt trời là hỏa tinh thái dương, mặt trăng là thủy tinh thái âm; không thể viện lệ ấy mà cho cũng là đá được. Đến như phép đo lường vòng tròn, đường kính rộng hẹp của các vì sao, thì trong sách lịch tây dương nói rất tinh tưòng.
Nhan Chi Thôi lại nói: "Mặt trời, mặt trăng, các sao, đều là khí; Khí thể nhẹ mà nổi, nên liền với trời, đi lại, xoay chuyển không hề sai lẫn, mà sự mau chậm cũng phải nhất luật. Cớ sao mặt trời, mặt trăng, ngũ tinh, nhị thập bát tú, đều có độ số, di chuyển không đều, lẽ nào Khí sa xuống lại hóa đá”.
Ta xét Hách Manh đời Hán có nói: “Trời không có chất; ngửa lên mà trông, chỉ thấy cao rộng không cùng cực. Mặt trời, mặt trăng, và các vì sao, tự nhiên quây quần ở trong khoảng hư không; lúc đi lúc đứng đều nhờ có Khí cả; cho nên thất diệu lúc ẩn lúc hiện không thường, lúc tiến lúc lui không giống nhau; vì không bám bíu vào đâu cho nên thế. Cho nên chỗ không có sao, Thần Cực ở yên một chỗ, mà sao Bắc đẩu không cùng với các sao khác lăn về phía Tây. Các vì sao Nhiếp Đề (chỗ cạnh Đế đình có 3 ngôi sao như cái chân vạc), Trấn Tinh (sao Thổ) đều đi về phía Đông, mỗi ngày đi một độ, một tháng đi 30 độ, Vậy xem thế đủ biết các sao không bấu bíu vào đâu". Cát Trĩ Xuyên (Cát Hồng) nghe nói thế, chê rằng: "Nêu tinh tú không bấu víu vào trời thì trời vô dụng”.
11. Người học về thuyết Hồn Thiên (thuyết này nói hình trời như quả trứng gà, đất là lòng đỏ, trời bọc ngoài đất) lại cho rằng Tam viên (ba chòm Tử vi, Thái vi, Thiên thị) và nhị thập bát tú, cùng với trời chuyển vận nhất định, không di dịch; đó là Kinh tinh (Sao ở kinh tuyến không thay đổi vị trí); còn mặt trời, mặt trăng, năm sao Ngũ hành, cùng vận hành với các sao khác, không có chỗ nhất định; đó là Vĩ tinh (sao ở vĩ tuyến). Kinh với Vĩ lẫn lộn hiện ra thiên văn.
Các đời đều theo thuyết ấy.
Gần đây có người Tây Dương vào Trung Quốc, tinh về thuật trắc nghiệm (đo lường trời), có nói rằng: “Trời có 9 tầng: tầng cao nhất là Tôn động thiên, không có sao gì cả; mỗi một ngày, đem các tầng trời từ Đông sang Tây, quay về bên tả một vòng. Tầng thứ hai là Liệt tú thiên. Tầng thứ ba là Trấn tinh thiên (Thổ tinh). Tầng thứ tư là Tuế tinh thiên (Mộc tinh). Tầng thứ năm là Huỳnh hoặc thiên (Hỏa tinh). Tầng thứ sáu là Thái dương thiên. Tầng thứ bảy là Kim tinh thiên. Tầng thứ tám là Thủy tinh thiên. Tầng thứ chín, tầng thấp nhất, là Thái âm thiên.
Tám tầng trời, từ Trấn tinh thiên trỏ xuống, đều theo Tôn động thiên quay về phía tả. Nhưng, mỗi một tầng trời đều có độ xoay sang hữu, tự Tây sang Đông. Thuyết này cũng giống như thuyết Chu Bễ, lấy con kiến đi trên bàn xoay đá mài làm thí dụ.
Mặt trời, mặt trăng, ngũ tinh, đều có một tầng trời; những tầng ấy đều không giống với đất, cho nên cách đất cao thấp không thông nhất; cái số cao nhất, thấp nhất đểu phải lấy đường bán kính của đất làm chuẩn đích.
Thuyết này cùng giống với câu nói trong Sở từ: "Vòng tròn có chín tầng trời”.
12. Bọn Nam Hoài Nhân (Ferdinandus - Verbiest), người Tây Dương làm sách Khôn dư đồ thuyết, có nói: “Đất với biển vốn là hình tròn, hợp lại làm một quả cầu ở trong thiên cầu; thực như quả trứng gà, lòng đỏ ở trong lòng trắng; trời đã bao bọc đất thì trời với đất cùng nhau hưởng ứng”.
Sách ấy lại nói: ''Người đời bảo trời tròn bao bọc lấy đất vuông, đó là lấy nghĩa động tĩnh lý vuông tròn mà nói, chứ không phải nói hình. Họ còn đem độ số Đông, Tây, Nam, Bắc để chứng minh cái nghĩa đất tròn rất là rành mạch. Các nhà khảo về hình tượng đều bảo thuyết đó không ra ngoài thuyết Hồn Thiên của người Trung Quốc xưa.
Lại bài Thiên đạo luận của Nhân Loan, đời Hậu Chu, trong Hoằng minh tập, có nói: “Đạo gia thường nói trời tròn đất vuông; nay đem bốn góc cùng phương hướng so sánh, thì thấy trời đất đều tròn”. Thế thì cái thuyết trời đất cùng tròn, cổ nhân cũng đã có vậy. Hai quyển Đồ thuyết dịch ra chữ hán. Trong sách ấy có nói về thổ địa, sản vật, phong tục, nhân vật, khí dụng và chế độ các nước, nhiều sự quái gỏ lạ lùng, không sao biết được. Còn như bàn đến núi non, triều tịch (nước thủy triều lên xuống), sông biển, gió mây, sấm chớp, thì đều rất đúng; vì các nước ấy ở gần biển, tập quen đường biển, căn cứ vào sự biết thực, thấy thực mà suy lượng hình tượng, chứ không phải ức đoán vu vơ! Nay sách Thuyết linh (của Ngô Chấn Phương, Uông Uyển, đời nhà Thanh) cũng có chép, nhưng mười phần không còn một phần; mà sự lựa chọn cũng sai lầm nhiều lắm.
13. Trong thiên Thiên viên của sách Đại Đới lễ ký (của Đới Đức, đời Hán) có chép việc Đan Cư Ly hỏi Tăng tử rằng: "Có thực trời tròn mà đất vuông không? Tăng tử đáp: “Trời sinh ở đầu trên, đất sinh ở đầu dưới (chua: ngưòi ta đầu tròn mà chân vuông, nhân đó mà hệ thuộc trời đất). Đầu trên gọi là tròn, đầu dưới gọi là vuông; như thực trời tròn, đất vuông thì thành ra bốn góc không được che kín à? Ta nghe đức Khổng Tử có nói: ”Đạo trời tròn, đạo đất vuông (chua thêm: đó là đạo vuông tròn, chứ không phải nói hình tượng vuông tròn)".
Ta nhận thấy Khổng Tử tuy không nói rõ hình đất tròn, nhưng xem một câu nói: ‘Tứ giác chi bất yểm (bốn góc không che kín)” thì đã biết được đại ý. Vậy, lời bàn về đất tròn của người Tây Dương thật không phải là mới lạ.
14. Sách Ngọc ghi chép: “Độ mỗi nhất vạn1” và chua rằng: chia một độ làm vạn phần. Xét sách Quảng nhã (của Trương Ấp đời Ngụy) mỗi độ là 2.932 dặm, nhị thập bát tú cách nhau tích lại được 1,700.923 dặm, đường kính là 356,970 dặm. Nhưng sách Thì hậu thần khu lại nói: "Nhị thập bát tú cộng là 366 độ, mỗi độ ước 3.000 dặm; kể là vạn phân thì 10 phân là 1 tấc, 10 tấc là một thước; mỗi 1 phân quản 30 dặm, mỗi 1 tấc quản 300 dặm, mỗi 1 thước quản 3.000 dặm”. Cùng với các thuyết “Chu thiên” cộng 1.097.000 dặm, không giống nhau. Xét sách Tấn chí dẫn lời Xuân thu khảo dị có bác đi rằng: Chu thiên cộng 1.071.000 dặm, mỗi độ là 2.932 dặm.
Có lẽ thuyết này là đúng.
Ngưòi Tây Dương lại cho là vòng Chu thiên 90.000 dặm, mà mỗi độ là 150 dặm; như thế lại là khác hẳn.
15. Sách Thượng thư vĩ khảo linh diệu (nguyên là Thượng thư vi, do Trình Huyền chú giải) chép rằng: “Ngày dài thì bóng mặt trời dài 1 thước, 6 tấc; ngày ngắn thì bóng mặt trời dài 1 thước, 3 tấc”. Sách Dịch Vĩ nói: “Ngày Đông chí, trồng một cây nêu cao 8 thước đến trưa, xem bóng mặt trời dài ngắn để chiêm nghiệm có điều hòa không. Phép xem bóng ấy cho biết ngày Hạ chí bóng dài 1 thước 4 tấc 8 phân; ngày Đông chí dài 1 trượng 3 thưóc”.
Phép Chu Bễ nói: “Trong đất nhà Thành Chu, ngày Hạ chí bóng mặt trời dài 1 thước 6 tấc; ngày Đông chí dài 1 trượng 5 thước 5 tấc”.
Bài truyện về sách Hồng Phạm, Lưu Hường có nói: “Ngày Hạ chí, bóng mặt trời dài 1 thước 5 tấc 8 phân; ngày Xuân phân và Thu phân, bóng dài 7 thước 3 tấc 6 phân; bóng mặt trời ỏ kinh đô Hán, Ngụy, Tống đều khác nhau”. Phép làm lịch của bốn nhà, về cách ảnh hậu (trình độ đo lưòng bóng mặt trời) thì như nhau, nhưng về cách điều trần đường vĩ tuyến thì sợ khó mà bằng cứ được. Cái thuyết đo bóng vào hai ngày Xuân phân, và Thu phân của Lưu Hướng nói trên, là chỉ lấy sai phân mà suy ra, chứ không phải nhân biểu hậu mà định dài ngắn.
Xét các sách Linh Diệu, Chu Bễ, Linh Hiến và Trịnh Huyền, chua sách Chu Lễ đều nói rằng: "Bóng mặt trời chiếu xuống đất, một nghìn dặm chỉ sai 1 tấc”.
Xét năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Nguyên gia thứ 19 (442), nhà Tống sai sứ sang Giao Châu đo bóng mật trời thì thấy: ngày Hạ chí bóng cây nêu về phía Nam dài 3 tấc 3 phân.
Hà Thừa Thiên khảo sát bóng mặt trời ở Dương Thành có nói rằng: "Ngày Hạ chí, bóng dài 1 thước 5 tấc”. Tính ra thì Dương Thành cách Giao Châu vạn dặm, mà bóng mặt trời sai nhau có 1 thước 8 tấc 2 phân, thế là 600 dặm, chỉ sai 1 tấc thôi.
Đến đời Hậu Ngụy, Tín Đô Phương chua bôn phép xem thiên văn của phép Chu Bễ có bảo rằng: “Đất Kim Lăng cách Lạc Dương từ Nam chí Bắc độ nghìn dặm, bóng sai 4 tấc”. Vậy thì, cứ 250 dặm là sai 1 tấc.
Lưu Chưóc đời nhà Tùy, lấy bóng mặt trời ở hai ngày Hạ chí và Đông chí mà định chỗ trời cao nhất chiếu xuống. Sách Chu Quan nói bóng mặt trời ngày Hạ chí dài 1 thước 5 tấc. Bọn Trương Hành, Trịnh Huyền, Vương Phồn, Lục Tích, đều cho bóng mặt trời cứ 1.000 dặm sai 1 tấc. Lại nói về phía Nam: dưới xứ Đới Nhật 1 vạn 5 nghìn dặm, bóng cây nêu rất đúng; khi trời cao lại khác. Xét trong phép toán, không có lý nào, 1 tấc sai được 1 nghìn dặm; mà cũng không có điển nào nói thế cả. Nay Giao Châu và ích Châu, về phía Bắc, nếu không có bóng, mà về phía Nam, qua Đới Nhật, cách những 50.000 dặm, như vậy thì nghìn dặm sai 1 tấc; đó không phải là sự thực.
16. Phép Trung quĩ phúc ảnh đời Đưòng nói rằng: "về phép Trung quĩ, xưa kia, Lý Thuần Phong làm lịch lấy trung quĩ định 24 tiết khí; cùng với phép đo dài ngắn của Tổ Xung Chi khác nhau; nhưng chưa biết ai phải.
Khi Tăng Nhất Hành làm lại Đại diễn, vua Đường có hạ chiếu cho quan thái sử phải đo bóng mặt trời khắp thiên hạ, mà lấy chỗ đất giữa làm định số. Khi họp bàn có nói rằng: Chu quan (Sách) dùng thổ khuê (thước đo bóng mặt trời bằng ngọc) đo, thì lấy chỗ bóng mặt trời 1 thước 5 tấc làm trung tâm điểm của đất, mà họ Trịnh (Trịnh Huyền) thì cho là bóng chiếu xuống đất, cứ 1 nghìn dặm sai 1 tấc. Như vậy, về phía Nam xứ Đới Nhật Hạ, xa cách 15.000 dặm, thì sai mất 1 thưóc 5 tấc. Đất cùng với tinh, thần, tứ du, lên xuống trong 3 vạn dặm; lấy số ấy mà chia đôi thì thấy được chỗ địa trung, Đĩnh Xuyên quận, đất Dương thành ngày nay, tức là địa trung đó.
Trong khoảng năm Nguyên gia (424 - 454), nhà Tống đi đánh nước Lâm Ấp (Chiêm Thành); ngày tháng 5 dựng cây nêu để trông, thì thấy mặt trời ở về phía Bắc cây nêu; ở Giao Châu thì bóng mặt trời ở về phía Nam cây nêu 3 tấc. Năm Khải nguyên thứ 12 (724, đời Đường Huyền Tông), đo bóng mặt trời ở Giao Châu (tức là Thăng Long, Hà Nội ngày nay) vào ngày Hạ chí thì thấy bóng ở phía Nam cây nêu 3 tấc, 3 phân cùng với sự đo năm Nguyên gia nói trên giống nhau.
Sứ giả (nhà Đường) là Đại tướng Nguyên Thái nói: ở Giao Châu, trông hết tầm con mắt mới thấy cao hơn 20 độ. Còn sách Hội yếu (Vương Phổ đời Tống soạn) thì bảo: ra khỏi mặt đất hơn 30 độ. Vào cữ tháng Tám, người đi biển trông thấy dưới sao Lão nhân tinh có hàng sao lấp lánh sáng, vừa rõ vừa tỏ và rất nhiều, mà xưa nay chưa thấy. Đó là những sao mà nhà làm sách Hồn thiên cho là những sao thường ẩn ở trong đất.
Lại về phía Bắc nước Thiết Lặc (tên thị tộc cổ ở tây bắc Trung quốc, nay là Thanh Hải, còn gọi là Sắc Lặc) có nước Cốt Lị Cán (tên bộ lạc trong thị tộc Sắc, gần Tây Bá Lị Á – Siberia) ngày dài đêm ngắn; đêm đến, trời vàng vàng mà không đen tối; chiều tối nấu một bộ lá lách dê vừa chín thì trời đã sáng, vì chỗ ấy gần chỗ mặt trời mọc.
Sách Nam cung (viết tắt của Nam cung cố sự của Trịnh Hoằng) của Thái sử Giám nói: “Chọn nơi đất phẳng ở tỉnh Hà Nam, đặt phép đo bằng dây tẩm mực trước, rồi dựng cây nêu, kéo dây mà đo, bắt đầu từ huyện Hoạt Đài trước. Bóng mặt trời ngày Hạ chí ở thành Bạch Mã dài 1 thước 5 tấc 7 phân. Về phía Nam hơn nữa, ở huyện Tuấn Nghi và huyện Nhạc Đài (thuộc Khai Phong, tỉnh Hà Nam), thì bóng mặt trời dài 1 thước 5 tấc 3 phân. Lại về phía Nam hơn nữa, ở huyện Phù Câu, bóng dài 1 thước 4 tấc 4 phân. Lại về phía Nam hơn nữa, ở huyện Thượng Sái và huyện Vũ Tân, thì bóng dài 1 thước 3 tấc 6 phân và một nửa phân. Đại khái cứ 526 dặm, 270 bộ, là bóng sai hơn 2 tấc. Còn thuyết cũ nói chỗ kinh đô nhà vua cứ nghìn dặm thì bóng sai 1 tấc là lầm.
Nay lấy phép Câu Cổ (phép toán cổ tính theo như định lý Pytago) so với cách đo Trung quĩ ở Dương Thành, thì thấy bóng ngày Hạ chí dài 1 thước 4 tấc 4 phân, 7 hay 8 li; bóng ngày Đông chí dài 1 trượng 2 thước 7 tấc 1 phân và nửa phân; bóng ngày Xuân phân và ngày Thu phân dài 5 thước 4 tấc 5 phân; lấy cái thước vuông đo úp, mà đo chéo đến chỗ cùng đất, thì thấy 34 độ và 4 phần 10 độ (4/10).
Xem cây nêu ở các huyện Hoạt Đài, Tuấn Nghi, Thượng Thái và Vũ Tân, thì Bắc Cực cách đất, dù ngày Xuân phân hay Thu phân hơi có co giãn, nhưng cũng khó so sánh được. Đại để cứ 351 dặm, 80 bộ, sai lắm là 1 độ.
Bắc Cực khi xa khi gần mặt trời khác nhau, thì bóng ở đường Hoàng đạo cũng vì đó mà biến đổi.
Hàng năm, lấy địa đồ đo bóng mặt trời ở Vũ Lăng, định khí là 4 thước 4 tấc 7 phân. Cầm bản đồ mà trông chếch, thì thấy chỗ cực cao là 29 độ và nửa độ (1/2), sai với Dương Thành là 5 độ 3 phân. Lấy địa đồ ở Uất Hoành Dã mà đo bóng, định khí là 6 thước 6 tấc 5 phân và một nửa phân (1/2); cầm bản đồ, trông chéo, thì thấy chỗ cực cao là 40 độ, sai với Dương Thành 5 độ 3 phân.
Phàm độ số Nam, Bắc sai nhau 10 độ và nửa độ nữa (1/2); đưòng kính là 3.688 dặm, 90 bộ. Từ Dương Thành đến Uất Hoành Dã và Vù Lãng, đại khái vào ngày Hạ chí dùng với Nam Phương sai ít, vào ngày Đông chí cùng với Bắc Phương sai nhiều.
Lại lấy bản đồ, xét và so sánh, ở Việt Nam, lúc mặt trời ở trên đỉnh trời về phía Bắc 2 độ, 4 phân, chỗ cực cao 20 độ, 4 phân; vào tiết Đông chí bóng dài 7 thước 9 tấc 4 phân; nhất định như thế. Tiết Xuân phân và Thu phân là 2 thước 9 tấc 3 phân; tiết Hạ chí, bóng cây nêu về phía Nam 3 tấc 4 phân, sai với Dương Thành 14 độ, 3 phân, mà đường kính thì 5.023 dặm. So đến Lâm Ấp: lúc mặt trời ở đỉnh trời, về phía Bắc 6 độ, 6 phân hơn một ít; chỗ cực cao 70 độ, 4 phân, chu vi 25 độ; thường hiện luôn, không khi nào lấp bóng, tiết Đông chí bóng dài 6 thước, 9 tấc. Bằng nay cách Dương Thành, phía bắc đến đất Thiết Lặc củng sai mất 17 độ, 4 phân; mà cùng với Lâm Ấp ngang nhau.
Quan Trung Thường Thị nước Ngô là Vương Phồn, xét chuyện tiên nho, lấy mực 15.000 dặm ở xứ Đới Nhật Hạ làm một nửa đưòng kính chu vi, rồi theo phép toán Câu cổ tà xạ để đo độ trời, thì thấy được 1.406 dặm, 24 bộ có thừa. Nay đo bóng mặt trời, cách Dương Thành 5.000 dặm, thì thấy đã ở phía Nam nước Đái Nhật; thế là mỗi độ giảm một phần ba của độ (1/3).
Nam cực, Bắc cực, cách nhau 8 vạn dặm, mà đường kính thì 5 vạn dặm. Vũ trụ to rộng, há chỉ như thế? Cái thuật đo trời của Vương Phồn, không khác gì lấy quả bầu mà đong biển.
Năm Khai nguyên thứ 13, đo đến núi Đại Tông (theo chú trong Ngiêu điển thì Đại Tông là núi Thái Sơn) lúc bấy giờ ở chân núi hay còn đêm tốì, ở chỗ nhật quán (nơi mặt trời mọc, đông nam núi Thái Sơn) trông về phía Đông, thấy mặt trời cao dần dần. Cứ phép đo, từ lúc sớm cho đến khi mặt trời mọc, sai 2 khắc rưởi, mà nay lại sai hơn 3 khắc, lý do là người đời xưa dùng thước thổ khuê đo trời, cốt để tuyên bá hòa khí, giúp đỡ mọi vật, chứ không ở chỗ đo đưòng kính chu vi các vị trí ngôi sao. Còn như ý nghĩa trong lịch số, là lấy lòng thành kính mà ban bố thời hậu cho dân biết và tôn trọng tượng trời, chứ không phải chỗ phải trái, của các thuyết hồn thiên, cái thiên.
17. Sách Tấn thiên văn chí nói: "Đất là ở giữa trời, mà Dương Thành là giữa đất". Sách Hà đồ quát địa tượng nói: “Núi Côn Lôn là cột trời, khí núi ấy thông lên tận trời. Côn Lôn là chính giữa đất”.
Chu tử nói: "Trung tâm điểm của đất bây giờ với ngày xưa khác nhau. Đời Hán thì Dương Thành là giữa đất; đời Tống thì Nhạc Đài là giữa đất; đã thấy sai nhau nhiều”.
Tạp chí của Lưu Định Chi nhà Hán nói: “Đính tâm của trời là ỏ huyện Dương Thành ở chân núi Tung Sơn, đính tâm của đất là ở núi Côn Lôn; so le không cân nhau, là vì trong khoảng trời đất, phương Đông Nam thì nắng nóng; phướng Tây bắc thì rét lạnh, Đất ở phương rét lạnh thì rắn chắc mà cao vọt lên, cho nên phương Tây bắc có nhiều núi; đất ở phương nắng nóng thì mềm ướt mà sụt thấp xuống, cho nên phương Đông nam nhiều nước. Hợp cả chỗ Đông nam nhiều nước, Tây bắc nhiều núi, quân bình mà bàn, thì Dương Thành là giữa đất lấy chỗ đính cao thì Côn Lôn là giữa. Đó là nói về phong vực Trung Quốc.
Nhưng ta xét lời nói của Trâu Diễn, thì đất chia làm chín châu, Đông nam gọi là Thần Châu, còn tám châu nữa, là Thứ Nhung, Hấp, Ký, Thai, Tế, Bạc, Dương, đều là Xích Huyện (tức Xích Thành, ở đó đất đỏ, sắc như ráng mây). Ký châu là một trong chín châu không biết ở vào chỗ nào.
Nhà sư Ma Đằng (Kàcyapa Màtàngha) thưa với vua Minh đế nhà Hán rằng: "Nước Cà-ti-la-vệ (Kapilavastu, nơi sinh quán của Đức Phật, trung bộ Ấn Độ, Tây nam Nepal) là trung tâm "tam thiên đại thiên thế giới bách ức nhật nguyệt” và các phật tam thế đều sinh ra ở đấy cả.
Trách Dưng nói rằng: "Phật sinh ở Thiên Trúc, vì Thiên Trúc là chính giữa trời đất và là nơi trung hòa”. Ông lại nói: “Trong truyện có nói rằng: Các vì sao Bắc thần, ở trời là giữa, mà ở người là phía Bắc”.
Xem đó thì đất Hán chưa hẳn đã là giữa trời.
Nhà sư Pháp Lâm đời Đường, dẫn lời bàn ở sách Trí độ luận (kinh Phật, của Long thụ bồ tát) có nói rằng: “Thiên và thiên kể chồng lại cho nên gọi là tam thiên; thiên rồi lại mấy thiên nữa, cho nên gọi là đại thiên; nước Cà-ti-la-vệ ở đó”. Kinh Phiên thán nói rằng: “Sông Thông Hà (Rapti) trở về phía Đông gọi là Chấn Đán, lấy nghĩa là lúc mặt trời mọc sáng rọi vào góc Đông. Chư Phật ra đời đều ở trung châu, chứ không ở ngoài biên ấp”.
Pháp uyển truyện nói: Hà Thừa Thiên nước Tống cùng với Trí tạng pháp sư tranh luận về chỗ giữa trời. Nhà sư nói rằng: “Thiên Trúc là trung thiên, vì những ngày Hạ chí, Đông chí, lúc mặt trời giữa trưa, dựng nêu không có bóng. Đến đời nhà Hán, lập ra Ảnh đài (để đo bóng mặt trời), đến lúc giữa trưa ngày Hạ chí, Đông chí, dựng nêu còn hơi thấy bóng. Theo trong toán kinh, một tấc ở trên trời bằng một nghìn dặm ở dưới đất". Khi ấy họ Hà mới tỉnh ngộ.
Nói tóm lại: Trung bộ Thiên Trúc là trung tâm trái đất. Ông Thích Minh khái bác lời sớ của Phó Dịch có nói rằng: "Gọi là nước ở giữa thiên hạ thì phải là trung tâm của ba nghìn nhật nguyệt, một vạn hai nghìn trời đất". (Tam thiên nhật nguyệt, vạn nhị thiên thiên địa chi trung tâm).
Các thuyết kể trên vể trời đất sai trái nhau, không biết thuyết nào là đúng.
18. Sách của người Tây Dương ra đời sau hết; thuyết của họ lại ly kỳ. Những người Tây Dương ấy đi đường biển mười vạn dặm mới đến Trung Quốc, họ lịch duyệt đã nhiều, đo lường lại tinh, cho nên ngưòi Trung Quốc đều dốc lòng tin, không ai dám chê cả. Nay chép các thuyết của họ, nói về chia độ kinh tuyến các nước, đại lược như sau: "Tất cả các nưóc lớn hay nhỏ, hoặc ở về Nam, Bắc, hoặc về Đông, Tây, đều có độ phận. Vì đất cùng biển đã thành hình tròn như quả cầu; từ Nam đến Bắc, quả đất như cái trục có hai đầu đối với trời. Nam cực và Bắc cực của trời gọi là hai cực quả đất; nhất định thế. Hai cực ấy đều cách xích đạo, mà phía trên phía dưới xích đạo là số của vĩ tuyến thì rõ ràng lắm".
Mặt trời và mặt trăng bám vào thiên cầu đi quanh địa cầu suốt ngày đêm không nghỉ, vốn không mọc hay lặn. Duy, nước này gặp khi mặt trời sáng thì là ngày, khi trăng sao sáng thì là đêm. Vì thế, thấy vầng thái dương lên thì đó là phương Đông; thấy vầng thái dương xuống thì đó là phương Tây. Xong, phương Tây ở nước này lại là phương Đông ở nước kia, mà địa cầu vốn không có chính Tây chính Đông gì cả.
Thế thì kinh tuyến của quả đất bắt đầu kể số từ chỗ nào?
Lúc mới họa toàn đồ thì hai đại châu thổ là Âu La Ba và Lỵ Mạt Á đều ở về phía Tây nước Trung Hoa. Kỳ thủy xét trong bốn biển thì Phúc Đảo là cực tây; ngoài đảo ấy là biển; đi sang Đông mà tìm lục địa (đất liền) thì thấy từ biển về phía Đông, đất rộng mênh mông biết đâu là cùng, mà là những nước liên tiếp nhau. Trên bản đồ nhất thống, vạch một đường tuyến từ Bắc Cực qua Phúc Đảo đến Nam Cực, rồi lây đường tuyến ấy làm mốc (biểu) độ số đường ngang, thì gồm hai mối đầu đuôi của 360 độ
Có người hỏi: quả địa cầu không có Đông Tây, sao trong địa đồ lại có các địa phương Đông Dương, Tây Dương; chẳng hóa lầm ư? Xin đáp rằng: người khéo họa đồ ấy đã lấy nước lớn làm chủ, rồi xem bên tả, bên hữu nước lớn ấy, đặt tên biển và tên các địa phương, vả như: Âu La Ba (châu Âu) thì thấy Á Mặc Li Gia (châu Mỹ) làm phía Tây, lấy châu Á Tê Á (Châu Á) làm phía Đông, cho nên vẽ Á Mặc Lị Gia ở phía hữu, và Á Tê Á ỏ phía tả. Như Trung Hoa (thuộc châu Á Tê Á) thì phải vẽ Âu Ba La và Lị Mạt Á ở phía hữu mà Nam và Bác Á Mặc Lị Gia ở phía tả. Vì, nếu không vẽ thế thì tên các địa phương sẽ lẫn lộn.
Sách Sơn hải toàn đồ chú giải rằng: "Đất với biển vốn hình tròn mà hợp làm một ở trong thiên cầu, Trời đã bọc đất thì trời đất ứng nhau: cho nên trời có Nam Bắc hai cực, đất cũng có Nam Bắc hai cực như vậy; trời chia làm 360 độ, thì đất cũng chia làm 360 độ. Trong thiên cầu có đường xích đạo; từ xích đạo xuông Nam 33 độ 1/2 là Nam Hoàng đạo; từ xích đạo lên phía Bắc 33 độ 1/2 là Bắc Hoàng đạo.
Cứ như Trung Quôc ở về phía Bắc Bắc Hoàng đạo, mặt trời đi theo đường xích đạo thì ngày đêm bằng nhau; đi về nam đạo thì ngày ngắn, đi về bắc đạo thì ngày dài. Cho nên, về thiên cầu có bản đồ ngày đêm bằng nhau ở giữa, lại có hai bản đồ ngày ngắn và ngày dài ở nam và ở bắc để tỏ rõ bóng mặt trời đi. Địa cầu cũng có ba bản đồ tương ứng như thế ở dưới. Duy trời bọc ngoài đất rất to, độ rộng; đất ở trong trời rất nhỏ, độ hẹp. Do đó độ số khác nhau. Bề rộng trong thiên hạ, bắt đầu từ Phúc Đảo, gồm có 10 độ, rồi đến 360 độ lại tiếp liền nhau. Thử xét như Nam Kinh cách trung tuyến trở lên là 32 độ, cách Phúc Đảo sang Đông là 120 độ, rồi ở yên đó. Phàm các vùng trên mặt địa cầu, từ trung tuyến trở lên đến bắc cực thì thực là bắc phương, từ trung tuyến trở xuống thì thực là nam phương”.
Nhà Phật nói Trung Quốc ở Nam Thiểm Bộ châu; và kể cả số đất của Tu Di Sơn (kinh Phật nói là Tuyết Sơn - Hymalaya) ở trong ngoài mặt đất, thì đủ biết là lầm.
19. Từ sau sách Sử ký và Hán thư, người nói đến phân dã đều cho là sao Nữ sao Ngưu là phân dã các nước Ngô, Việt; sao Dực, sao Chẩn là phân dã các nước Kinh, Sở. Lưỡng Quảng tuy là đất Việt nhưng giới hạn có phân biệt; Địa lý chí đời Tiền Hán cho là các quận thuộc về Uất Lâm, Thương Ngô ở về phía Tây tỉnh Việt (Việt Đông là Quảng Đông, Việt Tây là Quảng Tây) thì đều thuộc phân dã sao Ngưu, sao Nữ. Các nhà học giả Đỗ Hựu, Âu Dương Tu, Tô Đông Pha đã phân biệt rõ ràng. Nhà sư Nhất Hành lại có thuyết lưỡng giới (hai cõi): lấy phía Đông bắc nước Việt tiếp giáp nước Ngô thuộc Tinh Kỷ (phân dã sao Ngưu, sao Đẩu) phía Tây nước Việt đến nước Sở thuộc sao Thuần Vĩ. Bạch Quì Kham đời Tống đà càn cứ vào đó mà khảo luận, không còn nghi hoặc gì nữa.
Thế thì tỉnh Quảng Đông là khu vực Dương Châu, mà các tỉnh Yên Quảng, Hải Dương cùng Sơn Nam Hạ Lộ nước Việt Nam ta đều thuộc về chi điều ấy, nên thuộc phân dã sao Nữ. Tỉnh Quảng Tây là khu vực Kinh Châu, mà các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Kinh Bắc cùng Sơn Nam Thượng Lộ nước Việt Nam ta đều thuộc chi điều ấy, nên thuộc phân dã sao Chẩn.
Nơi nào gần phương Đông thì ấm nhiều, rét ít, hàng năm ruộng cấy hai mùa; nơi nào gần phương Tây thì nóng rét bằng nhau, mỗi năm ruộng chỉ cấy được một mùa; vì Khí hậu các nơi ấy khác nhau. Đến như Vân Nam là khu vực Dương Châu; các xứ ở nước ta như Tuyên Quang, Hưng Hóa đến mãi Sơn Tây, mãi đến phía hữu liên tiếp Thanh Hóa, Nghệ An, đều là dư Khí (khí dư dật) của khu vực ấy nên đều thuộc phân dã sao Quỉ.
Sách Vĩ thư khảo linh diệu có nói: “Mỗi một độ là 2.932 dặm có lẻ"; vậy phủ Thái Bình thuộc tỉnh Quảng Tây, thuộc phân dã độ thứ 13 sao Chẩn; ở về nước ta, các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Kinh Bắc, và Sơn Nam Thượng Lộ ước chừng đứng vào độ thứ 14 phân dã sao Chẩn. Phủ Liêm Châu thuộc tỉnh Quảng Đông đứng vào độ thứ 6 phân dã sao Nữ; ở nước ta thì các xứ Yên Quảng, Hải Dương, Sơn Nam Hạ Lộ ước chừng đúng vào độ thứ 7 phân dã sao Nữ.
Các loại sách thiên văn trong Minh chí cho các châu Cao, Hóa, ở tỉnh Quảng Đông thuộc phân dã sao Ngưu, sao Nữ, còn các châu Khâm, châu Liêm thuộc phân dã sao Dực, sao Chẩn. Ta nghi rằng: châu Liêm là đất quận Hợp Phố phía Nam liền ngay bờ biển phải thuộc về dư chi sao Thuần Vĩ, là phân dã sao Tinh Kỷ, mà phía hữu thì vào đến một khoảng ở giữa các phủ Thái Bình và Nam Ninh, không thể kéo ra phía ngoài biển được. Vả lại, Ngô Châu thuộc phân dã sao Nữ, còn hai huyện Bác Bạch, Lục Châu thuộc phủ ấy, đều có đường thông vào xứ Yên Quảng nước ta; Khâm Châu thuộc tỉnh Quảng Đông lại giáp giới với châu Vạn Ninh thuộc tỉnh Yên Quảng nước ta. Xem thế đủ biết nó phải đứng vào phân dã sao Nữ.
20. Sách Sơ học ký (Bộ bách khoa thư đời Đường do Từ Kiên chủ biên) chép rằng: “Việc chế tạo ra "lậu khắc” (dụng cụ đo thời giờ bằng nước rỏ giọt) có từ thời Hoàng đế, truyền đến đời nhà Hạ, nhà Thương". Theo phép ấy, sáng sớm tiết Đông chí, giọt nước chảy đến khắc 45, sau tiết Đông chí thì ngày dài, cứ 9 ngày dài thêm một khấc; sáng sớm ngày tiết Hạ chí giọt nước chảy đến khắc 65, sau tiết Hạ chí thì ngày ngắn, cứ 9 ngày giảm đi một khắc”.
Dụng cụ dùng nước xem giờ ấy có ba tầng tròn, đường kính đều một thước, để trên cái thùng hứng nước (trì chù) hình khối vuông, có con rùa vàng miệng phun nước vào thùng hứng nước, nước chảy ngang dọc lại chảy xuống cái chứa nước để ngang ở dưới, gọi là cái cừ, trên cái cừ ấy, có đặt hình người tên là quan tư thần (giữ việc giờ, khắc) đúc bằng vàng, mặc đủ áo mũ, hai tay cầm cái tên. Ấy là phép "lậu khắc” (xem giờ bằng giọt nước) của Ân Quỳ.
Còn một phép nữa: Lấy đồng đúc một con quạ khát nước, gọi là khát ô (ống đồng uốn khúc lấy hơi dẫn nước lên), hình như cái móc câu uốn khúc, dẫn nước vào mồm con rồng bạc để nó phun vào chậu đựng nước; cứ nước chảy xuống được 1 thưng, trọng lượng hai căn là một khắc. Ấy là phép "lậu khắc” của Lý Lan.
Hà Thừa Thiên đời Tống đã cải tiến phép ấy, định lại là hai ngày Xuân phân và Thu phân sớm tối, ngày đêm đều 55 khắc、
Đến đời Lương, Vũ đế cho ngày đêm có 100 khắc, đem phân phối cho 12 giờ, mỗi giờ 8 khác thì còn có phần thừa, nên chỉ lấy 96 khắc cho cả ngàv lẫn đêm, số 96 ấy chia làm 12 giờ, thì mỗi giờ chẵn 8 khắc. Đến năm Đại đồng thứ 10 (544) lại đổi làm 108 khắc. Tiết Đông chí, giờ ban ngày 48 khắc, giờ ban đêm 60 khắc, Tiết Hạ chí, giờ ban ngày 70 khắc, giờ ban đêm 38 khắc. Ngày Xuân phân, Thu phân, giờ ban ngày 60 khắc, giờ ban đêm 48. Còn các số buổi tối, buổi sáng đều là 3 khắc. Đến đời Trần lại phục hồi phép cổ cả ngày lẫn đêm là 100 khắc.
Đời Đường lại chế ra phép “Thủy hải phù tiễn" (tên nôi trong biển nước), có bôn cái thùng rót nước, lấy tên nổi lên chia ra khắc; chia ngày đêm làm 12 giờ, mỗi giờ 8 khắc, 30 phân; mỗi khắc 60 phân, cộng 48 cái ten; 2 cái tên là một khí; một năm cộng có 2,191.500 phân đều khắc ở trên cái tên; có con quạ bằng đồng dẫn nước xuống, tên nổi lên; đến chỗ phân biệt ngày đêm, chia tiết hậu, ngày chí (Hạ chí, Đông chí); mùa hạ ngày dài, mùa đông ngày ngắn, buổi sớm, buổi tốì, lúc ẩn, lúc hiện, đều đúng với cách đo bóng của sách Chu quan không sai chút nào. Cách thức chế tạo của đời Tống, đời Nguyên, không giống nhau, nhưng đều lấy 100 khắc làm phép áp dụng cả.
Sách Tam tài đồ hội (bách khoa thư, Vương Kỳ đời Minh soạn) có dẫn các sách nói về nguồn gốc Khí hậu. Sách Xuân thu nội sự nói: “Vua Phục Hi đặt ra tám tiết, vạch ra hào để ứng với tiết hậu”. Sách Tấn lịch chí nói: “Vua Viêm đế chia một năm làm tám tiết, trước hết là công việc nhà nông. Đổng Ba nói: “Vua Phục Hi đặt ra tám quẻ, mỗi quẻ ba vạch để tượng trưng 24 Khí tiết. Thiên Nguyệt lệnh trong sách Lễ ký có chua rằng: “Chu công làm ra phép xem giờ, định ra 24 khí, 72 tiết hậu. Vậy thì phép xem Khí hậu đã được đặt ra từ vua Phục Hi trước, rồi đến Chu công định lại sau: Cứ năm ngày là một tiết hậu, một tháng có sáu tiết hậu, 5 nhân với 6 là 30 ngày (6x5 = 30), ba tiết hậu là một Khí có 15 ngày.
21. Phép định tiết Khí ngày giờ
Tiền cửu niên suy hậu cửu thông,
Can thực chi xung tiết Khí đồng,
Nhuận nguyệt tất định vô trung khí,
Thử pháp ư quân tối hữu công.
Dịch nghĩa;
Suy tính chín năm trước, thì biết được chín năm sau,
Can thực chi xung, thì cùng một tiết khí,
Tháng nhuận chắc chắn được định là không có trung khí,
Phép ấy dạy người rất có công.
Thí dụ: Năm Kỷ Hợi, ngày Nhâm Tuất là tiết Lập xuân, thì (chín năm sau là) năm Đinh Mùi, ngày Giáp Thìn sẽ cũng là tiết Lập xuân. Nhâm là thủy sinh Giáp là mộc, là thực thần; Thìn xung Tuất; thế là "Can thực chi xung". Còn những tiết khác, theo đó mà tính.
22. Phép định tiết Khí thời khắc:
Kim niên Vũ thủy, mính niên xuân
Thiên can bất động gia lưỡng thần,
Dịch nghĩa:
Xuân năm nay là tiết Vũ thủy, thì sang năm là tiết Lập xuân,
Không động gì đến thiên can, chỉ gia thêm hai địa chi giờ (thời thần).
23. Tính 24 khí, cũng phỏng theo phép này.
Thời gia tam khắc vạn niên linh,
Dịch nghĩa:
“Án giờ thêm 3 khắc dẫu muôn năm cũng không sai”.
Thí dụ: Năm nay ngày mồng ba tháng Giêng là ngày Canh Thân, một khắc đầu giờ Ngọ là tiết Vũ Thủy từ ngày Canh Ngọ không động đến thiên can (là Canh) chỉ gia thêm 2 giờ là Tuất, tức ngày Canh Tuất (tháng Giêng) sang năm là tiết Lập xuân. Lại như: một khắc đầu giờ Tí, là tiết Vũ Thủy thì khắc thứ ba đầu giờ Tí, sẽ là tiết Lập xuân.
24. Phép xem giờ khắc mặt trời mọc, lặn.
Giờ Mặt Trời mọc
a. Giờ Dần:
Hạ Chí, giữa giờ Dần, 2 khắc.
Mang Chủng, Tiểu Thử, giữa giờ Dần, 3 khắc.
Tiểu Mãn, Đại Thử, giữa giờ Dần, 4 khắc.
b. Giờ Mão:
Lập Hạ, Lập Thu, đầu giờ Mão, 1 khắc.
Cốc Vũ, Xử Thử, đầu giờ Mão, 2 khắc.
Thanh Minh, Bạch Lộ, đầu giờ Mão, 3 khắc.
Xuân Phân, Thu Phân, đầu giờ Mão, 4 khắc.
Kinh Trập, Hàn Lộ, giữa giờ Mão, 1 khắc.
Vũ Thủy, Sương Giáng, giữa giờ Mão, 2 khắc.
Lập Xuân, Lập Đông, giữa giờ Mão, 3 khắc.
Đại Hàn, Tiểu Tuyết, giữa giờ Mão, 4 khắc.
c. Giờ Thìn:
Tiểu Hàn, Đại Tuyết, đầu giờ Thìn 2 khắc.
Đông Chí, đầu giờ Thìn 1 khắc.
Giờ Mặt Trời lặn
d. Giờ Thân:
Đông Chí, giữa giờ Thân, 2 khắc.
Tiểu Hàn, Đại Tuyết, giữa giờ Thân, 3 khắc.
Đại Hàn, Tiểu Tuyết, giữa giờ Thân, 4 khắc.
e. Giờ Dậu:
Lập Đông, Lập Xuân, đầu giờ Dậu, 1 khắc.
Vũ Thủy, Sương Giáng, đầu giờ Dậu, 2 khắc.
Kinh Trập, Hàn Lộ, đầu giờ Dậu, 3 khắc.
Xuân Phân, Thu Phân, đầu giờ Dậu, 4 khắc.
Thanh Minh, Bạch Lộ, giữa giờ Dậu, 1 khắc.
Cốc Vũ, Xử Thử, giữa giờ Dậu, 2 khắc.
Lập Hạ, Lập Thu, giữa giờ Dậu, 3 khắc.
Tiểu Mãn, Đại Thử, giữa giờ Dậu, 4 khắc.
f. Giờ Tuất:
Mang Chủng, Tiểu Thử, đầu giờ Tuất 2 khắc.
Đại Thử, đầu giờ Tuất 1 khắc.
25. Tiết vị lai nguyệt sóc tiết khí quyết
(Nắm lấy bí quyết xem tiết khí ngày mồng Một đầu tháng sắp tới)
Bí quyết này có 12 câu thơ thất ngôn:
Nguyệt sóc nguyên lai tự cổ hữu
Tiền cửu tương lai giữ hậu cửu.
Đại nguyệt ngũ can liên, cửu chi,
Tiểu nguyệt tứ can bát chi ngẫu.
Lục lục chi niên, tử tế suy,
Nhiệm quân tẩu tận kỷ hàn lộ;
Tiện tố kim niên lập xuân số;
Toán lai hữu bản vô sai ngộ.
Tứ thập thất niên tiền hữu nhuận,
Nhuận tiền nhị nguyệt định kim phùng,
Phân hào bất lậu chân tiêu tức
Tận tại tiên sinh chưởng át trung.
Dịch nghĩa:
Ngày sóc (mồng một đầu tháng) từ xưa nguyên vẫn có.
Chín năm trước tính đến chín năm sau,
Tháng đủ tính theo năm can và chín chi,
Tháng thiếu tính theo bốn can và tám chi.
Cái năm sáu sáu suy cho kỹ,
Trải qua mấy tiết Hàn lộ,
Thì định được ngày tiết Lập xuân năm nay.
Tính như thế đã có căn bản không thể sai lầm.
Bốn mươi bảy năm trước có tháng nhuận,
Thì năm nay nhuận, trước hai tháng;
Một phân một hào không sót tí gì,
Đều ở trong tay thầy toán số.
Giả như năm Mậu Tí, tháng Giêng là tháng thiếu, mà ngày mồng một là ngày Ất Dậu; can Ất đến can thứ tư là Mậu, chi Dậu tính đến chi thứ tám là Thìn (xem câu thơ thứ tư ở trên), thì biết ngày sóc tháng Giêng năm Bính Thân (9 năm sau) là ngày Mậu Thìn.
Tháng Hai năm Mậu Tí là tháng đủ mà ngày mồng Một là ngày Giáp Dần; từ Giáp tính đến can thứ năm là can Mậu, từ chi Dần tính đến chi thứ chín là chi Tuất (xem câu thơ thứ 3 ở trên), thì ngày Sóc tháng 2 năm Bính Thân (9 năm sau) là ngày Mậu Tuất. Còn những năm khác theo thế mà tính.
Lại có bí quyết rằng;
Chính nguyệt sơ nhất nhật thìn thuyết,
Cửu niên nhị nguyệt thập ngũ đồng.
Nhị nguyệt sơ nhất, nhật thìn vị,
Tức thị cửu niên nhị nguyệt trung.
Dịch nghĩa:
Mồng một tháng Giêng là ngày Thìn,
Thì rằm tháng Hai chín năm sau cũng là ngày Thìn.
Mồng một tháng Hai là ngày Thìn,
Thì rằm tháng Hai chín năm sau cũng là ngày Thìn,
Phép này rất đúng.
Duy có tiết Khí nào ở vào rằm tháng nhuận, thì nên tính lui lại một ngày, còn những tháng khác tương đối không sai.
26. Luận về tiết Lập xuân. Đem những thời khắc ngày tiết Hàn lộ từ 36 về trước đối chiếu với thời khắc tiết Lập Xuân năm nay không sai chút nào.
Luận về tháng nhuận. Xem tháng nhuận 47 năm về trước, lại gia thêm hai tháng, thì biết năm nay nhuận tháng nào. Thí dụ: Năm Canh Thìn trước, nhuận tháng tám, tính đến năm Bính Dần (47 năm về sau; xem câu thơ thứ chín ở trên), gia thêm hai tháng, tức là nhuận tháng Mười.
27. Sáu mươi hoa giáp chia làm đôi, từ Giáp Tí, Ất Sửu thuộc Kim, đến Nhâm Thìn, Quí Tị thuộc Thủy, cộng 30 hoa giáp. Lại từ Giáp Ngọ, Ất Mùi thuộc Kim, đến Nhâm Tuất, Quí Hợi thuộc Thủy cũng 30 hoa giáp.
Chính cung, đối cung; Kim rồi Hỏa, Hỏa rồi Thủy, đều giống nhau.
28. Về nghĩa Lục thập Giáp Tí nạp âm, trong sách Tứ thư đại toàn và tiểu chú, chương thiên thời, địa lợi, sách Mạnh Tử có dẫn thuyết Tam xa nhất lãm (xem qua đủ hiểu) nhưng chưa được minh bạch.
Xét sách Thụy quế đường hạ lục, thấy có nói: “Âm luật lấy số nhất với lục làm hành thủy; nhị với thất làm hành hỏa; tam với bát làm hành mộc; tứ với cửu làm hành kim; ngũ với thập làm hành thổ. Trong ngũ hành, chỉ kim, mộc là có âm tự nhiên, còn thủy, hỏa, thổ phải nhờ nhau mới thành âm được: thủy nhờ thổ, hỏa nhờ thủy, thổ nhờ hỏa. Cho nên: kim âm là tứ cửu; mộc âm là tam bát; hỏa âm là nhị thất; thủy âm là nhất lục; thổ âm là ngũ thập.
Giáp, Kỷ, Tí, Ngọ là số 9;
Ất, Canh, Sửu, Mùi là số 8;
Bính, Tân, Dần, Thân là số 7;
Đinh, Nhâm, Mão, Dậu là số 6;
Mậu, Quí, Thìn, Tuất là số 5;
Tỵ, Hợi là số 4.
Giáp Tí, Ất Sửu 34 số (9+9+8+8), là âm của tứ (4) kim, cho nên gọi là kim;
Mậu Thìn, Kỷ Tị 23 số (5+5+9+4), là âm của tam (3) mộc, cho nên gọi là mộc.
Canh Ngọ, Tân Mùi 32 số (8+9+7+8), nhị là âm hỏa (2), Thổ lấy hỏa làm âm, cho nên gọi là Thổ.
Giáp Thân, Ất Dậu 30 số (9+7+8+6), thập là thổ (10), thủy lấy thổ làm âm, cho nên gọi là thủy. Mậu Tí, Kỷ Sửu 31 số, nhất là số thủy, hỏa lấy thủy làm âm,cho nên gọi là hỏa.
Sáu mươi hoa giáp đều thế, vì đó mới là nạp âm. Lục thập Giáp Tí là lịch, nạp âm là luật, chi là nạp âm phân biệt ra.
(Nguồn: sưu tầm)
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Cùng đọc những câu nói hay về cuộc sống và suy ngẫm |
3 con giáp dễ đau đầu mất ngủ vì chuyện “lãng xẹt” trong tháng 8
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Chuyên đề tử vi 12 con giáp tuần này bàn về xem bói tử vi tuổi Tý qua tính cách, tình yêu theo nhóm máu, các cột mốc sự nghiệp của tuổi Tý, sự xung khắc của tuổi Tý với các con giáp còn lại. Chi tiết vận mệnh của Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý và Nhâm Tý theo tháng sinh và giờ sinh.
Chuột là con vật đứng đầu trong mười hai con giáp, vì thế những người sinh vào năm Tý là những nhà lãnh đạo bẩm sinh. Con chuột cũng tượng trưng cho những đặc điểm tính cách như dí dỏm, sáng tạo, sức sống bền bỉ và được biết đến là thông minh, lanh lợi. Những người sinh năm Tý cũng có chung đặc điểm như vậy.

Người phương Đông coi chuột là biểu tượng cho sự tích lũy và cho sức khỏe, loài vật này chính là biểu tượng cho sự may mắn và giàu có.
Khả năng lãnh đạo là bản tính của những ai cầm tinh con Chuột. Do là cung mệnh đầu tiên trong 12 cung nên người tuổi Tý luôn muốn mình đứng đầu trong mọi cuộc chơi, là người tiên phong trong mọi hoạt động, và là người ra lệnh ở mọi nơi. Với bản tính hiếu động và tò mò, họ luôn suy nghĩ không ngừng, sống thiên về hoạt động trí óc. Thông minh, lanh lợi, và sống theo cảm tính là những gì ta thường thấy ở những người thuộc cung mệnh này.
Những lúc khan hiếm, bằng cách này hay cách khác, Chuột vẫn có thể tìm ra những kho ngũ cốc ngon lành. Vậy thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa, loài sinh vật có tài tháo vát xuất sắc này là kẻ sống sót cuối cùng trong 12 con giáp.
Chuột luôn muốn đương đầu với thử thách vì họ thiên bẩm muốn trải nghiệm phiêu lưu mạo hiểm để tận hưởng cảm giác ớn lạnh giữa mong manh bờ vực sống và chết. Đi du lịch nước ngoài là niềm vui thú của họ. Tuy thế, nguồn động lực ẩn trong cuộc sống của những ai thuộc cung mệnh này chính là quyền lực và tiền bạc. Với óc sáng tạo phong phú, người tuổi Tý được biết đến qua sự thông thái của chính họ. Tính nhạt nhẽo của công việc thường nhật sẽ khiến họ dễ rơi vào cảm giác chán nản, vì thế việc thích hợp là những ngành nghề nào kích thích trí óc họ, và trong điều kiện làm việc linh động. Họ chẳng hứng thú với công việc bàn giấy 8 tiếng 1 ngày bởi lẽ Chuột cần khoảng không và sự linh hoạt phù hợp khả năng của mình. Thực vậy, những người tuổi Tý thực hiện rất tốt ở cương vị lãnh đạo, cho phép họ có được sự tự do sử dụng cả 6 giác quan trong việc xử lý tình huống, hướng tới cơ hội và tránh xa những rắc rối, nguy hại tiềm ẩn. Họ luôn là người đưa ra lời khuyên đáng giá, sắc sảo trong lĩnh vực tài chính, và thách thức những trò thể thao. Dù bất kỳ trong công việc nào, anh em nhà Tý luôn mang lại một luồng gió mới và sự sáng suốt, thấu đáo trong công việc của chính họ.
Người tuổi Tý có một sức hấp dẫn lạ lùng, được mọi người yêu mến, hiểu biết hệt như chú chuột Mickey do Disney sáng tạo ra. Có thể anh ta rất thẳng thắn và thành thật. Nhưng những hành động thân thiết của anh ta thường khiến bạn cảm thấy gò bó.
Người tuổi Tý dễ gần, cần cù, sinh hoạt tiết kiệm. Bề ngoài, người tuổi Tý có thể tỏ vẻ trầm lắng ít lời, nghiêm túc, nhưng trên thực tế không phải thế. Thực ra, anh ta rất dễ bị kích động, song có khả năng kiềm chế bản thân. Điểm này chính là nguyên nhân tại sao anh ta được đánh giá cao và có nhiều bạn bè. Hơn nữa họ có trái tim sôi nổi, vui vẻ, lạc quan, dễ gần, dễ mến, thích và giỏi giao thiệp. Họ thích kết bạn, hội hè, những nơi đông vui náo nhiệt và tham gia vào những tổ chức khác với nhóm mình. Họ rất quý trọng các mối quan hệ đã có. Theo thói quen, bạn luôn có thể tìm thấy anh ta trong nhóm bạn bè hoặc đồng nghiệp thân thiết. Anh ta thích tham dự vào mọi chuyện và luôn tỏ ra rất thân thiện.
Cũng có một số ít người tuổi Tý thích ca cẩm, cằn nhằn. Người tuổi Tý vốn tích cực và cần lao, họ giận dữ chủ yếu do sự lười nhác và lãng phí của người khác. Do anh ta cố không bộc lộ tình cảm, nên hễ thấy anh ta trở nên dễ cáu, vô lễ, vô lễ, hoặc lỗ mãng, thì biết ngay anh ta đang cực kỳ rối loạn. Họ còn là người luôn ra sức kiềm chế và biểu lộ tình cảm ra ngoài cho nên khi nào bạn thấy họ nổi nóng hay vô lễ thì hẳn là lúc họ đang rất buồn bực. Người tuổi Tý thích phê phán, châm biếm người khác, đôi lúc thành nhiều lời.
Người tuổi Tý rất trân trọng mối quan hệ với bạn bè, nếu bạn phát hiện anh ta gắn liền với cuộc sống của ai đó, thì chính là vì hễ anh ta có tình cảm tốt với người nào đó thì rất khó thoát ra khỏi tình cảm quyến luyến mãnh liệt. Tuy nhiên, người ta không thể biết đích xác lập trường của anh ta. Mức độ tình yêu của anh ta chỉ có thể xếp sau sự nhạy bén và bản tính thích tiền. Phòng anh ta cất đầy quà kỷ niệm, lòng anh ta ẩn chứa đủ chuyện vui buồn đã qua. Anh ta thích lo chuyện phần lớn là có ý tốt thôi.
Trí nhớ của người tuổi Tý rất tốt, cực kỳ thích đặt câu hỏi, kiến giải cao siêu. Anh ta hầu như hiểu rõ từng người xung quanh, từng chuyện nhỏ, ghi nhớ từng con người, từng sự kiện xung quanh họ vào bộ nhớ và lấy đó làm sở thích. Họ thích đặt câu hỏi và tự trả lời cho câu hỏi đó, đây cũng là một thú vui trong cuộc sống của họ. Bởi vậy, người tuổi Tý có trở thành một nhà báo, nhà văn xuất sắc thì cũng chẳng ai kinh ngạc. Người sinh vào năm Tý bất luận làm việc gì cũng đều thành công. Vì anh ta biết tùy cơ ứng biến giống như một chú chuột, anh có khả năng vượt qua mọi khó khăn, không sờn bước trước hiểm nguy. Vì anh ta bình tĩnh, tỉnh táo và nhạy bén, có một trực giác sắc sảo, tầm nhìn xa và sự mẫn cảm trước các cuộc làm ăn, hoạn nạn chỉ khiến trí tuệ của anh ta thêm xuất chúng. Anh ta luôn bận rộn hoạch định kế hoạch của bản thân.
Xin đừng bao giờ lo lắng cho sự an toàn của người tuổi Tý vì trước khi thực hiện một cuộc giao dịch, anh ta đã tính toán đường lui từ lâu – ngộ nhỡ có gì bất trắc xảy ra, anh ta nhanh chóng và kịp thời rút chân. Bản năng tự vệ chiếm vị trí đầu tiên trong lòng anh ta, anh ta thường lựa chọn phương án nguy cơ mạo hiểm ít nhất, nếu bạn muốn thoát khỏi rắc rối một cách nhanh chóng, hãy tuân thủ phương châm của người tuổi Tý. Vì như thể trên người anh ta lắp thiết bị cảnh giới và phòng thủ.
Ðặc tính của loài chuột là dễ thích nghi nên người tuổi Tý làm bất cứ nghề gi, việc gì cũng đều gặt hái được những thành quả nhất định. Họ có khả năng khắc phục khó khăn, sáng tạo, tuỳ cơ ứng biến. Họ là người có trực giác bén nhạy, có tầm nhìn trông rộng, có năng khiếu kinh doanh, buôn bán. Với người tuổi Tý, khó khăn khiến họ càng trưởng thành hơn. Trong bất kỳ tình huống nguy hiểm nào, người tuổi Tý cũng có một đường rút lui tối ưu. Họ là người thận trọng, tỉ mỉ, thường chọn những phương án ít mạo hiểm nhất. Nhưng họ có một điểm yếu là quá tham công tiếc việc nên dễ dẫn tới tình trạng suy nhược về sức khoẻ.
Tham vọng quá lớn chính là hòn đá cản đường đối với anh ta. Anh ta muốn liền một lúc làm được thật nhiều việc, đến nỗi tinh lực phân tán. Nếu anh ta có thể phát huy sở trường, hạn chế sở đoản và kiên trì hoàn thành sự nghiệp của mình, thì sau cùng người tuổi Tý sẽ trở thành giàu có, điều này giống như gom góp tiền bạc vậy.
Tuy người tuổi Tý có tiềm tàng khả năng dự báo nguy hiểm trời sinh và nhờ đó mà một vừa hai phải, có chừng có mực, nhưng vì anh ta chẳng khi nào chịu bỏ qua cơ hội mặc cả và làm một vụ “giao dịch ngon lành”, nên cũng thường khó đưa ra được phán đoán chính xác, kết quả khiến anh ta rơi vào vòng luẩn quẩn. Nếu như anh ta kiềm chế được lòng tham và có thể nhường nhịn thì đường đời sẽ vô cùng thuận lợi. Trong cuộc đời, trước khi ngộ ra tham lam hại nhiều lợi ít, ít nhất anh ta cũng gặp phải một vố đau về chuyện tiền bạc. Tuy nhiên muốn tìm một người tuổi Tý nghèo khó thì quả chẳng dễ chút nào.
Người tuổi Tý bộc trực, thành thật nhưng mọi cử chỉ, lời nói của họ đều khiến ta có cảm giác đó là người cẩn thận, chặt chẽ. Họ nỗ lực làm việc, sống tiết kiệm, họ không cho ai bất cứ thứ gì trừ phi đó là người họ rất quý mến. Nếu như bạn có thể lấy được của người tuổi Tý một vật rất quý giá, thì sự đánh giá của họ đối với bạn ắt phải tương đương với giá trị của vật đó.
Một người lãnh đạo tuổi Tý luôn quan tâm đến nhân viên của mình, họ quan tâm xem nhân viên làm việc có hăng say không, có ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý hay không. Khi nhân viên của họ ốm đau, bệnh tật, họ sẽ ân cần thăm hỏi, coi vấn đề của họ như chuyện của mình và tìm cách giải quyết. Nhưng khi nói đến chuyện tăng lương hoặc giảm giờ nghỉ cho nhân viên mà đáng lí ra họ phải được hưởng từ lâu rồi thì ông ta bắt đầu viện ra đủ mọi trở ngại và biến thành kẻ nhỏ mọn, sẽ khéo léo né tránh hoặc phớt lờ rồi quên luôn. Muốn ký kết hợp đồng với người tuổi Tý thì bạn phải bàn bạc, đàm phán nhiều lần mới đi đến thỏa thuận. Dưới quyền một ông chủ tuổi Tý, không nhân viên nào có thể trễ nải hoặc trốn việc được. Ông chủ tuổi Tý luôn tìm ra được việc làm vào bất cứ lúc nào cho nhân viên.
Vì người tuổi Tý là người rất chăm chỉ và tiết kiệm nên họ không ưa những kẻ lười biếng và hoang phí. Khi mua bán, họ hay “cò kè bớt một thêm hai”. Anh ta thường mua mấy thứ không thật cần thiết và dễ thường bị người ta lừa gạt trong khi mặc cả. Có lẽ do lòng ham mê tích lũy của anh ta quá cao. Mặt tiêu cực của người tuổi Tý ở chỗ ưa nêu ý kiến trước một số chuyện lặt vặt, ưa phê bình người khác, hay tính toán so đo, vòng vo, mặc cả. Họ cũng thích làm đẹp, làm sang cho bản thân nhưng trong khuôn khổ cho phép.
Bản tính người tuổi Tý là luôn giữ kín bí mật của mình, song họ lại là chuyên gia trong lĩnh vực tìm tòi bí mật của người khác. Họ có thể sử dụng những bí mật đó để đưa người khác vào chỗ chết. Anh ta sử dụng những tin tức ra sức thu lượm đựoc ấy, dồn người vào chỗ bí và nắm bắt những kẽ hở để hỏi cho bằng ra. Tóm lại họ không hề bỏ qua bất kỳ một cơ hội thăm dò tin tức nào dù là nhỏ nhất, chuyện gì cũng muốn xen vào.
Do người tuổi Tý trong mười hai con giáp là một người giàu tình cảm đích thực, nên anh ta không chỉ thương con hết mực mà còn kính yêu các bậc trưởng bối của mình. Cha mẹ có con sinh năm Tý chắc chắn sẽ nhận được sự quan tâm, chăm nom chu đáo của con mình. Người tuổi Tý luôn kính trên nhường dưới, họ luôn quan tâm chăm sóc trẻ nhỏ và luôn tin tưởng những người trên mình. Một người con tuổi Tý luôn đáp ứng những mong muốn và khoan dung trước những sai lầm của cha mẹ. Một người chồng tuổi Tý rất chung thuỷ và thích làm những việc giúp đỡ vợ, con trong gia đình.
Người nữ tuổi Tý luôn khiến bạn ngạc nhiên vì tính chi ly, tiết kiệm, đôi lúc hà tiện của họ. Chị ta luôn phân phát cho người khác quần áo, đồ chơi cũ, mua – bán đồ secondhand, chia một bữa cơm thành nhiều bữa nhỏ, và hết sức hạn chế chi tiêu gia đình, cho đến khi người nhà không chịu nổi mới thôi. Với bọn trẻ, chị cũng áp dụng biện pháp tương tự, nhưng nếu như thực sự cần dùng đến tiền, chị sẽ chẳng hề keo kiệt. Có lúc người tuổi Tý kết nhóm, kết bạn một cách rõ ràng, họ biết dùng nhiều cách tạo cảm giác an toàn tin cậy là có lý. Họ chẳng bao giờ lo lắng khi có thêm một miếng ăn và có thể cho phép họ hàng, bạn bè sống tại nhà mình. Tại sao thế? Vì chú chuột tinh ranh luôn tìm được cho họ công việc nào đó để làm, để đổi lấy cái ăn cái mặc… Những kẻ lười nhác, chỉ tay năm ngón hay khôn lỏi khi ở nhà người tuổi Tý đều trở nên bận rộn. Nhân từ cũng có hạn. Hãy tin tưởng tuyệt đối vào những người tuổi Tý giỏi giang ấy.
Một người mẹ tuổi Tý rất nuông chiều con cái mình. Một người vợ tuổi Tý luôn quan tâm giúp đỡ chồng trong mọi việc. Người mẹ tuổi Tý là một bà chủ gia đình đảm đang. Chị sẽ giúp đỡ chồng phát triển sự nghiệp, thay anh coi sóc gia đình. Chị sẽ dắt con cái đi học piano, múa ba lê… Chị có thể gánh vác công việc xã hội nặng nề. Mặt khác, người vợ tuổi Tý này còn có thể giúp gia đình tháo gỡ những việc phức tạp, rối rắm và vui vẻ cùng người nhà đón những ngày lễ Tết, những kì nghỉ cuối tuần.
Người tuổi Tý tình cảm nội tâm rất dồi dào, đa số vô cùng nhân từ, khoan dung độ lượng với người mình yêu mến. Khi tranh cãi về chuyện vặt vãnh với người yêu, bạn luôn nhường nhịn vài phần, không so đo từng li từng tí. Ưu điểm của lòng nhân từ, khoan dung ở con người bạn khiến người khác phải hết sức quí mến khi giao tiếp. Bởi vậy, ngay từ đầu bạn đã giành được vị trí nổi bật trong tình yêu. Quán ngữ có một câu rất hay: Việc lớn theo nguyên tắc, việc nhỏ vờ hồ đồ.
Có thể bạn cảm thấy đắc ý, hớn hở, nhưng đường tình duyên của bạn không được thuận buồm xuôi gió. Khi người tuổi Tý yêu, họ thường rất chăm chút, chu đáo, nhưng luôn mong người ta báo đáp lại mình. Có thể, bạn sẽ làm quen với một người khác phát trong một dịp rất tình cờ và gặp ngay tiếng sét ái tình với anh ấy (cô ấy). Nhưng vốn dĩ bạn quá nhiệt thành với tình yêu nên thường chữa lợn lành thành lợn què, cuối cùng tay trắng vẫn hoàn tay trắng, chỉ còn lại một nỗi si mê. Điều này chỉ có thể trách bản thân bạn.
Một điều có thể khẳng định là cuộc sống gia đình của người tuổi Tý khá hạnh phúc, nhưng đôi khi vẫn xảy ra những cãi vã từ những chuyện không đâu. Nữ giới tuổi Tý thích nằm mơ giữa ban ngày, theo đuổi mối tình viển vông, bạn hi vọng được làm một người tình tuyệt vời trong lòng người ta, kể cả bề ngòai lẫn nội tâm.
Bạn là một người khá tự do, yêu cầu được bình đẳng, ấp ủ lòng kính phục người yêu. Người có thể khiến bạn lao tâm khổ tứ đều tài giỏi xuất sắc. Đáng tiếc, hễ bạn cảm thấy năng lực của người yêu không ưu tú như bạn vẫn tưởng tượng, liền mất đi lòng tin.
Ngoài ra, nữ giới tuổi Tý không chỉ yêu vẻ bề ngoài của đối phương, mà còn quan tâm hơn đến vô số điều kiện khác. Bạn nhất định là một bà chủ gia đình cực tốt, nhưng vẫn có thể chăm lo sự nghiệp. Về những việc qua lại với bạn bè thân thiết, thường bạn không bận tâm cho lắm.
Nam giới tuổi Tý đối xử với người khác thân thiết, hòa nhã, tính tình rộng rãi và hiểu nhiều biết rộng. Khi bạn đang yêu, thường tỏ ra nho nhã ôn hòa, quan tâm hết mực đến người ta. Tuy bạn thành khẩn, lễ độ chất phác không màu mè, nhưng khi bị phái nữ trêu chọc, bạn sẽ không ghìm được mà lộ hết sạch mọi tính tình thiên bẩm ra. Lúc ấy, cô gái bên cạnh bạn sẽ hoài nghi nhân cách của bạn.
Tình yêu và cuộc sống hôn nhân của người tuổi Tý thuộc nhóm máu A có những nét riêng đáng trân trọng. Những người này sống khá nội tâm, ít nói và rụt rè. Bởi vậy tình yêu của họ cũng thể hiện sự thầm lặng nhưng lại rất dịu dàng và thánh thiện. Người tuổi Tý thuộc nhóm máu A thường không chủ động theo đuổi tình yêu và lại càng không thể hiện tình cảm của mình khi đang ở trước mặt đối tượng. Cách họ bày tỏ tình cảm chỉ đơn giản bằng những cái nhìn chăm chú. Họ rất mong đối phương có thể nhận ra tình cảm của họ. Sau khi kết hôn, nữ giới tuổi Tý thuộc nhóm máu này sẽ trở thành những người phụ nữ đảm đang, chiều chồng, thương con hết mực. Nam giới là người rất yêu thương và tôn trọng vợ. Bản thân những người này luôn ý thức xây dựng nền móng vững chắc cho cuộc sống tương lai. Họ luôn sát cánh bên người bạn đời chung tay trong mọi công việc.
Người tuổi Tý thuộc nhóm máu B thường thích tự do và thích hành động theo suy nghĩ của bản thân. Trong tình yêu, họ thường tự ý hành động và ít khi để tâm tới thái độ, phản ứng của đối phương. Tuy nhiên, trong thâm tâm họ lại mong người yêu biết những điều họ làm tất cả là vì tình yêu. Tuýp người này khi yêu rất thẳng thắn và sẽ bày tỏ thái độ, tình cảm của mình trực tiếp, không vòng vo, che giấu cảm xúc. Vốn là người thích tự do nên sau khi kết hôn, người tuổi Tý mang nhóm máu B thường không thích "bị trói chân bởi gia đình". Họ cho rằng vợ chồng cần có sự bình đẳng, thậm chí cả hai đều cần có những khoảng trời riêng. Nữ giới khi đã trở thành người chủ trong gia đình, họ sẽ là các bà mẹ quan tâm và giáo dục con cái rất tốt. Đối với một số nam giới, thời kỳ đầu cuộc sống hôn nhân của họ thường không mấy tốt đẹp vì tính trăng hoa bên ngoài. Tuy nhiên về sau họ sẽ toàn tâm chăm sóc vợ con để xứng đáng là một người chồng, người cha mẫu mực.
Những người này luôn đầu tư nhiều thời gian và công sức để chăm lo cho người thân và gia đình. Trong tình yêu, ngay từ những buổi hẹn họ đầu tiên, họ luôn chú ý quan sát đến sở thích, thói quen của đối phương để gây bất ngờ, tạo ấn tượng cho những lần gặp gỡ tiếp theo. Nếu như đối phương cảm nhận được đồng thời đưa ra những tín hiệu phản hồi tốt đẹp thì tình cảm giữa họ sẽ tiến triển tốt đẹp. Nhưng nếu không thuận lợi như mong muốn, họ dễ rơi vào trạng thái thất vọng thậm chí dễ nổi cáu, nóng giận với người xung quanh và ngay cả đối tượng mà họ đang theo đuổi. Nếu "một nửa" của họ là người nóng nảy, vội vàng thì tình yêu của họ sẽ không tránh khỏi những xung đột, cãi vã. Bởi vậy, khi tìm được "một nửa" của mình, họ phải biết kiềm chế và kiên trì theo đuổi trong thời gian dài thì mới có hạnh phúc vẹn toàn như ý. Cả nam giới và nữ giới tuổi này đều rất biết chia sẻ và gánh vác công việc nhà. Vì với họ, gia đình đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Để cuộc sống luôn được “cơm lành canh ngọt”, người tuổi Tý thuộc nhóm máu AB nên kết hôn với những người hiền lành, chu đáo và biết cảm thông.
Đa số người tuổi Tý thuộc nhóm máu O đều có khiếu hài hước, sống vui vẻ lạc quan. Nhờ tính cách này mà họ luôn mang lại không khí vui vẻ cho người yêu trong các buổi hẹn hò. Những người này thường rất tự tin vào tình yêu mà mình đang theo đuổi và luôn cố gắng để vun đắp nó. Tuy nhiên, nếu thấy người yêu không còn tha thiết với mình như lúc đầu, họ cũng thay đổi thái độ ứng xử phù hợp. Chính vì vậy khi buộc phải chia tay, họ không bị chìm vào cảm giác chán nản và thất vọng như thường thấy. Họ sẽ nhanh chóng cân bằng lại tinh thần để tiếp tục tạo dựng những mối quan hệ mới. Với người tuổi Tý thuộc nhóm máu O, gia đình đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của họ. Sau kết hôn, nữ giới tuổi này chăm lo chồng con rất chu đáo. Họ có thể coi là mẫu người của gia đình. Bên cạnh đó, một số phụ nữ thuộc nhóm máu này không những quán xuyến mọi công việc gia đình mà còn rất giỏi với các công việc xã hội. Cuộc sống gia đình dù còn phải đối mặt với nhiều khó khăn song họ luôn sát cánh cùng chồng gánh vác, bàn cách ứng phó giải quyết. Nam giới thuộc tuổi này trở thành những người chủ rất có trách nhiệm với gia đình. Họ sẵn sàng chia sẻ công việc nhà với vợ và cùng chăm sóc con cái.
Chuột được xếp là mốc khởi đầu cho chu kì 12 con giáp, vì thế Chuột cũng gắn liền với những đặc điểm mạnh dạn, năng nổ và tháo vát. Chuột có mối quan hệ mật thiết với sự thành công hữu hình như sự giàu sang và những giá trị xa xỉ khác trong cuộc sống. Đó là sự năng nổ, sức quyến rũ, sự chăm chỉ, tính kỷ luật và bản tính sôi nổi, cuồng nhiệt hơn hẳn những tuổi khác. Người tuổi Tý có rất nhiều cơ hội để trở nên giàu có và thành công trong cuộc sống. Họ nhanh nhẹn, mạnh mẽ, và dễ thích nghi với hoàn cảnh - điều giúp họ thành những người có khả năng giải quyết vấn đề một cách xuất sắc. Không giống như các cung tuổi khác, người tuổi Tý có ít bạn nhưng đều là những mối quan hệ tốt và chắc chắn.
Nếu bàn về sự cạnh tranh thì không ai có thể có sức lôi cuốn bằng người tuổi Tý. Họ khéo cư xử và có khả năng thành công trong mỗi cuộc đua tranh. Tính thật thà và thái độ vô tư cũng là những đặc điểm mà các tuổi khác cần học tập ở người tuổi Chuột. Một nghiệp chướng nặng nề có thể dẫn tới những mâu thuẫn bên trong. Họ dường như tự cho phép mình hưởng thụ trong đầu cơ và những công việc mạo hiểm khác để tạo lối thoát cho xúc cảm. Nếu không có lối thoát cho bất kì bế tắc nào, họ có thể tự huỷ hoại mình.
Người tuổi Tý là luôn tự chủ và thận trọng, chu đáo khi cư xử với những người xung quanh. Còn về nghề nghiệp, một mặt, họ có thể giỏi trong nghệ thuật văn chương nhưng mặt khác cũng có khả năng trở thành những thám tử, nhân viên kế toán, kỹ sư và nhà nghiên cứu bệnh học xuất sắc. Ngoài ra, luật và chính trị cũng là hai lĩnh vực họ có thể tham gia.
Người tuổi Tý thường có cuộc sống thơ ấu hạnh phúc, thời thanh niên cũng thong dong không bị ràng buộc, hơn nữa hết thảy đều được như ý. Đến trung tuần, thường có một số phiền phức gần kề, sẽ gặp không ít thất bại. Có thể sẽ thất vọng trong tình trường, hoặc giả thất bại trong làm ăn buôn bán và công việc. Nhưng về già người tuổi Tý thường hạnh phúc và khá an lạc.
Người sinh năm Tý, hầu hết có tính cách hễ đặt mục tiêu dành dụm tiền bạc thì liền quyết tâm thực hiện, chưa đạt mục tiêu chưa ngơi tay. Nói chung, họ là người hết sức cần cù. Chính vì thế, trong cuộc đời mình họ rất ít khi phải lo lắng hay gặp khó khăn về tiền bạc. Nhưng có một điều lại là nhược điểm về mặt tiền bạc của họ, tuy họ có thể tiêu pha một cách thận trọng, nhưng thường do lòng dạ mềm yếu nên dễ bị lừa gạt.
Cái tính cách mềm yếu của họ thường không điều khiển được lý tính, hay làm những chuyện không có lợi. Họ dễ bị người ta dụ dỗ đi đánh bạc. Vì họ luôn ôm hy vọng gặp may, trước khi lật bài đã cảm thấy nhất định mình sẽ thắng. Nhưng “mười ván thua đến chín” – câu nói này ngàn năm vẫn không sai.
Tuy cả đời không phải lo lắng về tiền bạc, nhưng họ phải hiểu, chẳng qua họ chỉ có thể “ăn dè để dành” mà có của ăn của để đó thôi, vì họ hiểu phải dành dụm từng chút từng chút đồng tiền vất vả, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới kiếm được ấy. Xin khuyên những người tuổi Tý đừng có ý tưởng phất lên làm giàu nhanh chóng. Nếu nằng nặc muốn nếm thử mạo hiểm, hòng quăng hết tâm ý sức lực cả một đời để giành món tiền lớn, cách làm này thực không đúng. Họ nên cố gắng học một ít kiến thức quản lý tiền bạc, học cách làm sao tận dụng khoản tiền hiện có một cách linh hoạt. Chịu khó học hỏi, nghiền ngẫm, họ nhất định sẽ sống đầy đủ, thoải mái.
Tuổi Chuột khá khôn ngoan và sắc sảo. Mặc dù, người tuổi Chuột thích tích trữ nhưng với những người thân, họ không hề keo kiệt. Ngược lại họ rất thoáng về khoản chi tiêu. Trên thực tế, tuổi Tí rất có tiếng nói trong gia đình vì sự chuyên cần và tận tâm. Họ luôn làm mọi điều để mang lại niềm vui cho người thân. Nếu hai người tuổi Chuột sống trong một gia đình, họ sẽ cười và làm cho các thành viên khác cũng cười nghiêng ngả theo. Nhưng không con Chuột nào có khả năng đảm nhiệm hết những việc vặt trong nhà. Đôi khi nhà cửa không ngăn nắp và gọn gàng, người khác có thể khó chịu nhưng hai chú Chuột vẫn chấp nhận được vì cả hai cùng lôi thôi. Mọi mâu thuẫn và cãi cọ giữa hai người tuổi Chuột đều được hóa giải bởi sự hài hước và dí dỏm bản năng của họ.
Nếu hai người tuổi Tí là một đôi uyên ương, họ sẽ là cặp đôi rất vui nhộn và chung tình. Họ thường thể hiện tình yêu theo cách rất riêng, qua lời nói và hành động nhưng ít lãng mạn. Nhưng điều đó không hề gì với cả hai chú Chuột vì họ đều thích và lấy đó là những điều cần làm để cho tình yêu thăng hoa. Nếu có thời gian, hai chú Chuột sẽ bên nhau cả ngày, thì thầm và “buôn” đủ thứ chuyện trên đời mà chưa chán. Càng thi vị hơn nếu có thêm món gì đó để cả hai cùng nhấm nháp khi thèm ăn. Chuột thấy người bạn đồng hành cùng con giáp tuổi Chuột này thật khó thay thế bởi sự hấp dẫn, sự vui nhộn và xinh xắn.
Nếu cùng phối hợp làm ăn, hai người tuổi Chuột sẽ tạo nên một tập thể vững chắc nhờ sự thông minh và sâu sắc của cả hai. Hai tuổi Tí sẽ làm việc chăm chỉ và tạo động lực cho nhau. Nhưng tốt hơn hết, họ nên chọn công việc tận dụng được tư duy logic ví dụ như công việc trong ngành luật hoặc liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.
Chuột và Trâu là cặp đôi khá hấp dẫn theo kiểu “trái chiều hút nhau”. Chuột thông minh, sắc sảo và hài hước còn Trâu nhút nhát và nghiêm túc. Tuy vậy, giữa họ vẫn có sợi dây liên kết vô hình. Chuột mê Trâu ở sự duyên dáng nhưng ẩn chứa bên trong là sức sống mạnh mẽ. Còn Trâu hâm mộ Chuột ở trí thông minh và sự đáng tin cậy.
Trâu rất thích chơi cùng bạn bè và người thân trong gia đình. Đây cũng là một điểm mà Chuột rất thích ở Trâu. Tuổi Tí có thể làm cho tuổi Sửu nhẹ nhàng, nhút nhát thấy mình luôn được quan tâm, chăm sóc. Hai con giáp cạnh nhau này cùng rất trung thành. Nếu là mối quan hệ tình yêu, người này không để cho người kia có lý do để ghen tuông hay xử sự theo kiểu “sở hữu”. Còn trong các mối quan hệ khác, Chuột sẽ bổ sung vào cuộc sống khá lặng lẽ của Trâu sự tươi mới và dí dỏm. Còn Trâu sẽ giúp Chuột ổn định lại cuộc sống khá bừa bộn mà Trâu đang sống.
Hai tuổi này không hề hợp nhau nếu tính chuyện trăm năm. Trong khi Chuột rất thông minh nhưng luộm thuộm thì Trâu lại rất chắc tính và không chịu nổi sự bừa bãi của Chuột. Hai tuổi này ít khi nhường nhịn nhau. Nếu muốn sống cùng, cả hai cùng phải giảm bớt cái tôi của mình. Khi Tí và Sửu cùng nhau làm ăn, họ sẽ hỗ trợ rất tốt cho nhau. Trâu sẽ là nhân vật chủ chốt vì rất cần mẫn và chịu khó. Còn Chuột sẽ hỗ trợ Trâu bằng cách tận dụng trí thông minh của mình. Chuột đảm nhiệm rất tốt vai trò của người đàm phán hoặc gặp gỡ khách hàng.
Khi mọi thứ diễn ra tốt đẹp, mối quan hệ của cặp này cũng ổn định theo. Thế nhưng, một khi xảy ra mâu thuẫn, hãy coi chừng vì xung đột sẽ rất gay gắt. Tốt hơn hết là hai bên chỉ dừng lại ở tình cảm bạn bè.
Cả hai cùng thích là trung tâm của vũ trụ, đều duyên dáng và rất cuốn hút. Trong các tình huống mang tính xã hội, hai “hành tinh” này ganh nhau ra mặt, ai cũng muốn mình được mọi người ca tụng, tán dương, đặc biệt là Hổ, người sở hữu sự dũng cảm và mong muốn quyền lực.
Nếu yêu nhau, đây là một cặp rất lạ - họ rất nhiệt tình với sở thích của người kia. Nhưng điều đó duy trì không được lâu. Hổ thấy mệt mỏi vì cách Chuột “tự nâng mình lên” hoặc các lời nói nửa đùa nửa thật của Chuột. Còn Chuột chán ngán bởi tâm trạng dao động và cách thể hiện quyền lực của Hổ. Tuy nhiên, điểm chung rất lớn của Tí và Dần là họ yêu rất nồng nàn và tận tâm với người mình yêu. Nếu có sơ sở vững chắc, Chuột và Hổ sẽ chung sống bên nhau trọn đời.
Khi nói về chuyện làm ăn giữa tuổi Tí và tuổi Dần, cả hai cần phân biệt rất rạch ròi xem ai đang là người đứng đầu. Và vị trí top luôn phải giao cho Hổ vì con người này thích mình ở luôn đứng đầu. Chuột hơi nhút nhát sẽ là hậu phương vững chắc cho Hổ ngoài chiến tuyến. Tuổi Tí nhanh nhẹn, tháo vát có thể đảm nhiệm vai trò rất tốt trong các buổi họp để gặp gỡ các khách hàng tiềm năng và các tổ chức thương mại khác. Chuột khi đã làm việc thì tâm huyết hết mình. Đa số những công việc nào giao cho Chuột đều được giải quyết đến nơi đến chốn.
Nếu là một cặp uyên ương, hai “hành tinh” này sẽ rất ăn ý với nhau. Hai tuổi này sẽ đổ vào nhau trong tình yêu và cống hiến cho nhau. Mèo mê Chuột ở cách Chuột biết chăm sóc và bảo vệ Mèo, tự hào về sự dí dỏm, năng lượng dồi dào và nhanh nhẹn. Còn Chuột thấy hứng thú với Mèo bởi sự duyên dáng, đằm thắm đến mê hoặc. Nếu cãi cọ, Tí và Mão sẽ cân bằng nhau được ngay từ đầu nhưng đa số là Chuột vẫn lấn lướt. Ngôn ngữ sắc sảo của Chuột khiến Mèo hiền lành, nhút nhát thấy Chuột luôn hợp lý. Mèo tin Chuột như một điều hiển nhiên của cuộc sống. Bởi vậy hai tuổi này sống rất hòa thuận với nhau.
Khi là bạn, họ cũng sẽ là những người bạn thực sự. Chuột trung thành, Mèo cũng trung thành. Hai tuổi này coi nhau như những người ruột thịt. Tí và Mão nếu là bạn sẽ còn bền vững hơn khi họ là hai người yêu nhau.
Nếu là đối tác kinh doanh, Chuột và Mèo sẽ kết hợp rất hiệu quả với nhau. Nếu có tranh cãi thì luôn luôn bắt đầu từ Chuột. Rồi mọi chuyện lại ổn thỏa vì mèo rất nhã nhặn và nhường nhịn. Tuy nhiên, không phải vậy mà Chuột tỏ ra không biết điều. Chuột hiểu được vai trò quan trọng của Mèo trong các mối quan hệ làm ăn.
Tóm lại, ở trong bất kỳ mối quan hệ nào, Mèo cũng chịu ảnh hưởng tích cực từ tinh thần lạc quan, sự nhanh trí của Chuột vì đôi khi tuổi Mão hơi bi quan một chút. Chỉ cần, tuổi Tí coi tuổi Mão là mối quan hệ thân thiết, tuổi Tí sẽ sẵn lòng tìm mọi cách để tuổi Mão hài lòng và bảo vệ tuổi Mão đến cùng.
Chuột và Rồng có thể nói là cặp đôi gần như hoàn hảo. Dù là bạn, là người yêu hay là thành viên trong một gia đình, hai “hành tinh” này đều kết hợp với nhau khá ăn ý và hỗ trợ cho nhau. Trong tất cả các tuổi, Chuột hợp với Rồng nhất và tạo thành một cặp trời sinh. Trong khi Rồng là tuổi hoành tráng nhất trong 12 con giáp, luôn giữ được dáng vẻ uy nghi nổi trội nhất thì Chuột lại rất thông minh, biết cách nịnh Rồng và nép vế bên Rồng rất dũng mãnh và uy phong.
Cả hai tuổi này đều thích trở thành trung tâm của sự chú ý. Chuột thông minh, nhanh nhẹn luôn mang lại niềm vui cho mọi người xung quanh. Còn nét dũng mãnh cộng với sự thông minh của Rồng cũng khiến mọi người khâm phục và nhớ mãi về cách ứng xử rất nhiệt thành. Đôi khi hai tuổi này có thể có mâu thuẫn nho nhỏ nhưng những rắc rối này lại được hóa giải rất tự nhiên, hài hước và không khí lại trở nên ôn hòa như bình thường.
Khi là một cặp uyên ương, Tí và Thìn có sức hút lẫn nhau rất lớn. Cả hai đều có nguồn sinh lực dồi dào để cùng nhau khám phá cuộc sống. Còn khi là những người bạn hay đối tác làm ăn, họ cũng kết hợp rất khớp với nhau. Chuột đủ khôn ngoan và sắc sảo để dành cho Rồng vị trí của người tiên phong. Với cách này, Rồng sẽ phát huy được hết năng lực và sự tài ba của mình. Họ sẽ cùng nhau xây dựng một “vương quốc” phát triển và thịnh vượng.
Chuột nhanh chán Rắn vì chậm chạp và thiếu hoài bão, bởi trên thực tế Chuột nhanh nhẹn và sắc sảo hơn. Ngược lại, tuổi Rắn sẽ không hài lòng lắm với tuổi Chuột quá khôn ngoan và theo suy nghĩ của Rắn, Chuột thường tự cho mình là suy nghĩ sâu sắc hơn người.
Mặc dù vậy, hai tuổi này vẫn có thể là một đôi uyên ương khá hợp nhau. Họ thực sự có sức hút và biết cách làm người kia say mê. Tuổi Rắn hút hồn tuổi Chuột thông minh nhanh nhẹn bằng sự đằm thắm và trí tuệ. Còn Chuột luôn biết cách để bảo vệ Rắn. Thường thường, tuổi Rắn có máu hoạn thư hoặc có tư tưởng sở hữu với người mình yêu. Mặc dù vậy, cặp đôi này vẫn như hình với bóng và khá chung thủy với nhau.
Khi là đối tác kinh doanh, họ cũng rất “hợp cạ”. Họ chỉ có vấn đề khi Rắn muốn đảo ngược vị trí, đó là muốn mình trở thành trung tâm của sự chú ý. Rắn rất nhanh chán những người không có năng lực và làm việc kém hiệu quả nhưng Chuột không phải là mẫu người này. Tuổi Tị đánh giá rất cao sự thông minh và năng lực của tuổi Tí. Còn tuổi Tí lại có cách giải quyết vấn đề rất tuyệt và luôn giữ vai trò trụ cột khi làm ăn với tuổi Tị. Vì vậy, hai “hành tinh” này sẽ cùng kết hợp để xây dựng một tập thể khá vững mạnh.
Ngọ và Tý là một cặp khá thú vị. Đối lập trên vòng tròn con giáp, quan hệ của họ khó có thể tránh khỏi sự mâu thuẫn. Về bản chất, họ đều là những người thích giao lưu, thích bay nhảy, rất hóm hỉnh và năng động. Tuy nhiên, nếu như những người tuổi ngựa có nhu cầu sống độc lập thì tuổi chuột lại chú trọng đến tình bạn, và khá tình cảm. Khi dấn sâu vào một mối quan hệ, tuổi ngựa đôi khi cảm thấy như bế tắc và chật chội không gian, còn tuổi chuột thì luôn có nhu cầu tìm hiểu và kiểm soát đối phương.
Nói chung, tuổi chuột khao khát được quan tâm, bày tỏ tình yêu và họ không tiếc điều gì để nuôi dưỡng cuộc tình. Vì thế, nếu yêu người tuổi ngựa, tuổi chuột có thể sẽ không được mãn nguyện vì tuổi ngựa không toàn tâm toàn ý cho tình cảm. Quan điểm về tài chính cũng không được hòa hợp, "chuột" rất biết tích trữ làm giàu, trong khi "ngựa" dường như chỉ biết đến hiện tại. Lo lắng cho tương lai dường như là một thứ xa xỉ với họ.
Tuy nhiên, về phương diện kinh doanh, Ngọ và Tý có thể tạo nên một cặp ăn ý một khi họ chấp nhận sự khác biệt của nhau. Tuổi Tý có con mắt nhìn xa trông rộng, nên họ hoạch định chiến lược cực tốt. Tuổi Ngọ không có tầm bao quát, nhưng một khi đã có định hướng rõ ràng, họ triển khai rất hiệu quả. Họ hoàn toàn có thể kết hợp làm ăn lâu dài, miễn là người tuổi ngựa không đứng núi này trông núi nọ.
Nếu hai tuổi này phải lòng nhau, họ sẽ bắt sóng đối phương rất nhanh. Từ lúc hai ánh mắt va nhau đến khi họ nói tiếng yêu có thể chỉ mất một tháng, nhưng về lâu về dài, tình cảm rất dễ phai nhạt. Dẫu vậy, cuộc tình của họ sẽ rất thú vị bởi sự bất định về tính cách của đôi bên.
Tí và Mùi không phải là cặp đẹp đôi nhưng nếu nỗ lực và cố gắng hiểu nhau, mối quan hệ của họ cũng sẽ tốt đẹp. Vấn đề giữa hai “hành tinh” này là nhu cầu và sở thích khác nhau. Chuột có nhiều bạn bè và rất quan tâm đến các hoạt động xã hội, còn Dê lại có tâm hồn nghệ sĩ. Trong khi tuổi Chuột thấy thích thú với những điệu nhảy hoặc các bữa tiệc bạn bè, thì tuổi Dê lại yêu những gì thuộc về nội tâm, tự thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên.
Tuy vậy, nếu là một cặp uyên ương, Tí và Mùi lại khá gắn bó với nhau. Tuổi Tí tuy có nhiều bạn bè nhưng luôn dành cho tình yêu những tình cảm đặc biệt, sự hào phóng, độ lượng đến đắm say. Đây là điểm mà Mùi khâm phục Tí. Trong khi đó, Dê là người của gia đình, chăm chút con cái nên luôn tạo cảm giác thật thoải mái cho tuổi Tí lúc trở về nhà sau một ngày làm việc mệt mỏi. Đôi khi, Tí thật chán với cuộc sống khá bằng lặng và êm đềm của tuổi Mùi; Mùi cũng hơi khó chịu với sự phóng túng vốn có của Tí.
Khi là đối tác làm ăn, hai con giáp này khá ăn ý. Chuột sẽ đóng vai trò là người ở tiền tuyến, luôn giải quyết các vấn đề về khách hàng, tổ chức và các sự kiện. Chuột thích kiếm tiền, thích địa vị và “cái đầu” làm ăn rất giỏi. Tuổi Dê không có hoài bão kiếm tiền nhiều như tuổi Chuột nhưng khá sáng tạo, có thể đảm nhiệm vai trò của hậu phương. Nếu “hai cái đầu” cùng hợp lực, chắc hẳn sẽ tạo ra một đế chế khá bền vững.
Tí và Thân là một cặp "xứng đôi vừa lứa". Cả hai đều hài hước, dí dỏm và là trung tâm chú ý trong các bữa tiệc hoặc các hoạt động xã hội. Do vậy, họ thường có những khoảng thời gian thật thú vị bên nhau. Hai con giáp này đều có cái tôi cá nhân khá lớn, nhưng đây lại không phải là vấn đề lớn với cả đôi bên. Đôi khi, họ mâu thuẫn, cãi vã và cạnh tranh nhau nhưng rồi họ lại hóa giải mọi thứ theo cách rất hài hước và dễ chịu.
Khi là người yêu hoặc vợ chồng, Tí và Thân rất thắm thiết và quanh quẩn bên nhau. Trong con mắt của bạn bè thì đây là cặp trời sinh. Tuổi Chuột có khả năng chế ngự cảm giác ghen tuông hoặc sở hữu của tuổi Khỉ. Những người cầm tinh con Chuột thường hay thể hiện mình và khá phóng khoáng sẽ hiểu tuổi Khỉ hơn bất kỳ con giáp nào. Vì vậy, họ ứng xử hòa nhã và sống với nhau rất hòa thuận.
Khi là đối tác kinh doanh, cả hai con giáp này đều năng động. Tí và Thân cùng chung quyền lực. Trong khi, tuổi Chuột có cái đầu sắc sảo trong làm ăn và kiếm tiền thì tuổi Khỉ cũng thích được nắm quyền lực trong tay. Điều thú vị là tuổi Chuột đủ khôn ngoan và khéo léo để cho tuổi Khỉ cảm thấy cũng đang nắm quyền. Nhìn chung, mục tiêu của Tí và Thân đều giống nhau vì vậy, họ dễ dàng hòa nhập để cùng phát triển.
Tí và Dậu chỉ hợp khi họ hiểu được mục tiêu cuộc sống của nhau. Tuổi Tí thông minh và sắc sảo nhưng đôi khi không đánh giá hết được sự trung thành, thẳng thắn đáng quý của tuổi Gà. Trong khi đó, tuổi Gà chuộng cuộc sống theo lối truyền thống, thích sự ổn định, thỉnh thoảng không tán thành với một số quan điểm của tuổi Chuột; vì vậy, giữa hai tuổi này sẽ xảy ra khẩu chiến. Người cầm tinh con Gà khá ưa sự hoàn mỹ, đôi khi họ cằn nhằn hoặc “chỉnh” tuổi Tí vì mong muốn tuổi Tí nghiêm túc hơn. Tuy nhiên, thực tế không hoàn toàn như tuổi Gà nghĩ vì Chuột không hề sống phù phiếm mà ngược lại rất thực tế, hào phóng và dí dỏm.
Tuy nhiên, nếu là hai người yêu nhau, người tuổi Dậu sẽ rất ít phàn nàn về tuổi Tí. Họ thường rất hài hước khi ở bên nhau. Cả hai cùng thích đi chơi và vui vẻ bên bạn bè. Gà thỉnh thoảng bi quan, cần được vỗ về và động viên. Chuột hiểu điều này và sẵn sàng làm cho Gà vui. Biết được tình cảm của tuổi Tí dành cho mình, tuổi Gà chung thủy và tận tâm hết mình vì tình yêu của hai người.
Khi là đối tác làm ăn, khi hai con giáp này đã đặt niềm tin vào nhau, họ kết hợp khá ăn ý. Họ cùng tiết kiệm và cùng nhau xây dựng. Bình thường tuổi Chuột rất hào phóng và tiêu tiền khá “mạnh tay”, nhưng trong kinh doanh, người tuổi này rất biết tính toán. Điều này làm tuổi Gà tâm phục khẩu phục. Vì vậy, họ sẽ cùng nhau xây dựng và phát triển.
Mặc dù có nhiều điểm khác biệt nhưng Tí và Tuất vẫn kết hợp khá ăn ý. Tí thích xung quanh có nhiều bạn bè thân còn với Tuất, cuộc sống chẳng còn ý nghĩa nếu không có sự trung thành. Đáng tin, khôn ngoan và có trách nhiệm, tuổi Tuất là người bạn tuyệt vời. Đôi khi sự nhiệt tình quá với bạn bè của người tuổi Tuất khiến Tí hơi khó chịu và đoán mò lung tung. Tuy nhiên, dần dần, người cầm tinh con Chuột thấy sự nhiệt tình và trung thành của tuổi Tuất đầy thú vị và đáng quý. Vậy là họ trở thành những người bạn khá tri kỷ.
Nếu là một cặp uyên ương, hai “hành tinh” này có thể hỗ trợ nhau khá nhiều. Tuổi Tuất đôi khi nhẹ dạ, cả tin và tuổi Tí luôn ở bên cạnh để giúp tuổi Tuất định hình lại sự việc và lấy lại tinh thần. Thường thường, người cầm tinh tuổi Tuất thấy hài lòng về sự thân thiện, hào phóng của tuổi Tí nhưng cũng khó tránh khỏi mâu thuẫn. Đó là khi Tuất không đặt niềm tin trọn vẹn vào Tí và nghi ngờ động lực sống của con giáp này. Vậy nhưng, tuổi Tí không thấy nản và thất vọng vì sự bi quan của tuổi Tuất và thấy đó là thử thách cần chinh phục. Cứ như vậy, cuộc sống con giáp này vẫn thuận buồm xuôi gió.
Khi là đối tác kinh doanh, họ sẽ tạo thành một tập thể vững mạnh. Tuổi Tí khôn ngoan, sắc sảo và thông minh bên cạnh tuổi Tuất cũng thông minh, thậm chí còn cấp tiến trong suy nghĩ và rất đáng tin cậy. Cả hai cùng hỗ trợ cho nhau để xây dựng một khối bền vững.
Tuổi Tí thích là trung tâm của sự chú ý trước đám đông và đối xử với người mình yêu quý bằng sự nhiệt thành và độc đáo. Còn tuổi Hợi luôn đặt bạn bè và gia đình là yếu tố quan trọng hàng đầu, nên Hợi trở thành thành viên rất tích cực trong đám đông.
Điểm yếu của tuổi Hợi là quá lạc quan và lý tưởng hóa người khác. Chính vì vậy, đôi khi con giáp này không nhìn thấy một số tính xấu của tuổi Tí: sự tham lam và có lúc hơi mưu mẹo một chút. Nhưng điều đó cũng không ảnh hưởng gì nhiều đến mối quan hệ của hai người vì Chuột thông minh, dí dỏm và đặc biệt kiếm tiền rất tốt. Đây mới chính là điểm mà tuổi Hợi mong đợi. Hơn thế nữa, tuổi Hợi rất thích xài đồ hiệu và tuổi Tí rất “khoái” đặc điểm này. Bởi vậy nên cả hai này khá hòa hợp. Hai “hành tinh” này cãi cọ khi tuổi Tí “sống nhanh” không còn đủ kiên nhẫn với tuổi Hợi lúc nào cũng thích ngủ muộn và chậm trễ.
Trong kinh doanh, Tí và Hợi phải điều chỉnh thì mới có thể tiếp tục mối quan hệ. Tí nhanh nhạy và thiên hướng kiếm tiền tốt, biết cách tận dụng người khác để làm giàu. Hợi yêu sự giàu có nhưng trong mắt của tuổi Tí, Hợi lười hơn so với những gì Tí mong đợi. Điều này khiến Tí thỉnh thoảng nặng lời. Mặc khác, tuổi Hợi khá kiên định lập trường, khi đã đưa ra quyết định, khó lòng thay đổi. Tính cách này có 2 mặt đối với mối quan hệ của hai người, phụ thuộc vào hành động mà tuổi Hợi làm có trùng khớp với điều mà tuổi Tí muốn hay không.
Những nghiên cứu khoa học số mạng hiện đại cho thấy, trong số mạng tồn tại tính qui luật nào đó, con giáp của năm chưa chắc đã không phải là sự phản ánh tính qui luật chu kì của số mạng. Lịch sử thường có những vòng tuần hoàn lặp lại đáng kinh ngạc.
Là người học nhiều, thành công ít, được trước mất sau, tâm tính nóng nảy, thuở nhỏ gặp họa, phải cậy nhờ cha mẹ, phiền lụy đến anh em cốt nhục, con cái tai ách. Có thể coi là mệnh lanh lợi, thông minh giỏi giang. Những người này duy tâm trong suy nghĩ, mạnh mẽ trong lời nói, hành động và cực kỳ tình cảm. Họ có thể che đậy cảm xúc của mình bằng cách luôn tỏ ra là một người hạnh phúc và quyến rũ.
Trong thực tế, họ rất dễ bị xúc động dẫn đến ghen tuông, giận dữ, ích ỷ và sở hữu. Cái nhìn của họ dựa trên những gì giác quan cảm nhận được. Họ yêu tiền nhưng sẽ không tích trữ và chẳng ngần ngại bỏ ra nếu có thể thu được chất lượng và giá trị tốt. Họ biết cách đầu tư một cách khôn ngoan. Họ sẽ không lãng mạn như chuột loại khác, nhưng có thể đầy nhục cảm mà vẫn giữ được phẩm hạnh.
Họ thích gây ấn tượng, ngôi nhà của họ sẽ được trang hoàng lộng lẫy trong khả năng tài chính của họ. Họ yêu kịch, và yêu thích các thứ cổ điển. Họ cũng có tinh thần thể dục thể thao. Nếu họ có thể kiềm chế xu hướng thống lĩnh của mình, họ sẽ thành công trong việc đưa mình trở nên nổi tiếng và được mọi người yêu mến. Về cơ bản, họ là con Chuột sẽ tiến lên bằng cách thâm nhập vào vòng những người có ảnh hưởng.
Là người nhạy bén, có quyền bính và cơ mưu, thuở trẻ bình thường, trung niên thành đạt, về già có hậu, làm việc theo cơ trí, nữ thường nói nhiều. Kiểu chuột này liên quan nhiều hơn các hoạt động thần kinh, sự rắc rối phức tạp của quá trình suy nghĩ. Họ có tầm nhìn sâu rộng và quan hệ tốt với mọi loại người. Họ sẽ được kính trọng và phát huy tài năng của mình nhờ bản chất thấu hiểu và hay giúp đỡ. Họ truyền thống và bảo thủ trong hành vi, thích bơi với sóng hơn là chống trọi nó. Tuy nhiên, họ cũng rất tính toán và khôn ngoan sắc sảo. Ham học hỏi kiến thức, thành thạo trong việc diễn đạt suy nghĩ ra giấy, con chuột này sẽ làm việc để học cao hơn và sẽ không bao giờ muốn dừng việc học hỏi.
Người thuộc dạng này sẽ phát huy mọi phẩm chất cần thiết để gây ảnh hưởng trong lĩnh vực mà họ cho là quan trọng. Họ biết những gì người khác thích và không thích, từ đó biết cách làm hài lòng những người để người ta có thể giúp đỡ mình. Tuy nhiên, họ cũng không quá phân biệt và nói chuyện với bất cứ ai muốn nghe. Điều này có thể khiến họ gặp phiền phức.
Là người thông minh lanh lợi. Vợ chồng hòa thuận, có tài lộc, về già phát tướng, nữ giới hiền lương, số phát đạt. Đây là chuột năng động và hào hiệp, thích tham gia vào mọi hoạt động và không mệt mỏi tham gia những chiến dịch đòi hỏi sự công bằng và quyền lợi. Họ cởi mở, hăng hái nhưng cũng hào phóng. Mặc dù rất giàu năng lượng và theo chủ nghĩa duy tâm, họ thiếu tài ngoại giao và đôi khi hành xử rất cùn để có được sự hỗ trợ cần thiết. Là một người không được kỷ luật cho lắm, họ sẽ làm theo sự chỉ dẫn của con tim hơn là cái đầu.
Mặc dù rất tận tâm với gia đình và người thân, họ vẫn có thể rời bỏ bất cứ nơi nào mà họ thấy quá chật chội và hướng tới một thế giới thông thoáng hơn. Họ độc lập và rất ganh đua. Nhưng do họ không hài lòng với một cuộc sống lưng chừng tẻ nhạt, vận mệnh của họ sẽ thay đổi liên tục và đôi khi sẽ biến chuyển mạnh mẽ nếu quá nôn nóng.
Là người coi trọng an nhàn, cả đời tài lộc không thiếu, mọi việc đều thuận lợi, gặp hung hóa cát, quí nhân phù trợ, nữ thì hưng vượng, là mệnh âm gia. Loại chuột này trưởng thành sớm, với họ, hạnh phúc và sự hài lòng được tìm kiếm theo trình tự, trật tự và sự an toàn. Họ sẽ cố gắng để phát huy những điểm mạnh của mình và để được công nhận tài năng. Họ rất thực tế và không chạy theo những giấc mơ viển vông. Họ thích duy trì mối quan hệ tốt với tất cả mọi người và thích làm việc ở một nơi hoặc một công việc lâu dài mà ở đó họ có những người bạn trung thành. Họ luôn tập trung vào từng việc một lúc và rất cẩn thận, kỹ lưỡng trong công việc. Ở một mặt khác, họ có thể quá chú tâm tới thành quả, tự cho mình là đúng và không nhẫn nại với người khác, đặc biệt khi họ quá nôn nóng để hoàn thành mọi việc theo đúng tiêu chuẩn của mình.
Họ rất quan tâm tới danh tiếng và thể diện của mình, nhưng nhiệt tình và bảo vệ những người mình thương yêu. Họ có tiêu chuẩn vật chất cao và luôn so sánh mức độ thành công của mình với đồng nghiệp. Người này cũng có thể trở nên quá thực dụng và keo kiệt về tiền bạc. Họ không bao giờ chơi trò may rủi và hiếm khi chớp lấy cơ hội. Kết quả là vận mệnh của người này tiến triển chậm, nhưng mà chắc. Anh ta tuân theo các quy tắc và tiêu chuẩn hoạt động và mong đợi những người làm việc cùng cũng tuân theo tiêu chuẩn như vậy.
Là người thuở nhỏ gặp nạn, trung niên đủ ăn đủ mặc, thân nhàn tâm khổ, anh em vất vả, họ hàng lạnh nhạt, đều là tự mình làm lấy. Nữ thường giỏi giang. Đây là dạng chuột luôn tiến bộ, hướng tới thành công và rất thân tình, họ sẽ cố gắng khám phá mọi thứ và tìm ra giá trị sử dụng của hầu hết những thứ gặp được. Họ hiểu biết toàn diện về hoạt động của các hệ thống và làm cho nó hoạt động theo ý mình. Họ nhìn xa trông rộng và luôn muốn tìm hiểu nguyên nhân tại sao và từ đâu ra. Mặc dù họ khá tự cao tự đại, nhưng vẫn biết chiều lòng và chu đáo với người khác, bởi họ muốn tìm kiếm sự ủng hộ và ngưỡng mộ.
Họ có những nguyên tắc riêng và biết mình muốn gì. Họ nghiêm khắc với những thứ ưu tiên trong cuộc sống, nhưng vẫn có thể linh hoạt để đạt được mục tiêu. Họ yêu sự an toàn và luôn lo lắng về tương lai, đó cũng là lý do vì sao họ làm việc rất chăm chỉ. Bộc lộ ra ngoài là sự tự tin, hiểu biết và rất chuyên nghiệp về những thứ mình làm, họ còn là một người nói chuyện có duyên. Họ có thể đưa ra sáng kiến và các dự án khả thi, họ cũng gặp ít khó khăn trong việc huy động sự hỗ trợ cho các phi vụ làm ăn của mình.
Tiết đầu xuân. Nhà nhà từ giàu đến nghèo đều có gạo thịt, là thời chuột sống sung sướng, no nê, thịt mỡ đầy tràn. Nhưng ăn uống quá nhiều dễ sinh lú lẫn. Tự cao chủ quan, không biết người biết ta, cuối đời ham ăn lười làm, váng vất hồ đồ.
Tiết Kinh trập, người này nhát gan, hay sợ sệt, tính tình rụt rè đáng yêu, văn nhã ôn hòa, có điều hay gặp rủi ro, giao kết với quí nhân, xử thế rộng rãi, thoải mái, tuy không làm đại tướng thống soái nhưng sẽ có văn ấn.
Tiết Thanh minh, hay gặp tang tóc, tuy có lộc nhưng nhiều chuyện đau lòng. Mỗi lần gặp chuyện đau lòng đều rất yếu đuối, buồn bã, nỗi niềm chồng chất, lớn thì chuyện bất bình, đến chết vẫn lận đận, có nhà cửa, song chỉ là người tầm thường.
Tiết Lập hạ, cả đời ít tài lộc, lao đao, lận đận, không quan hệ rộng, hay gặp trở ngại, không tiểu nhân nhiễu loạn thì nguy hiểm trùng trùng, không được chồng hiền vợ đảm tương trợ, mọi người xem thường, ít có cơ hội, rất khó mở mày mở mặt.
Tiết Mang chủng, nhanh nhạy, tùy cơ ứng biến, không để tuột mất cơ hội tốt, có thể trở thành phú quí, cả đời không đói rét, không cơ cực vất vả. Tự thân làm nên, được kính nể, đáng làm gương cho mọi người, phúc lành muộn, không có nạn lớn.
Tiết Tiểu thử, khí vượng dồi dào, đường rộng thênh thang, nơi nơi đều nảy nở, đề phòng ngày nắng hạn ắt đến, gặp phải tật ách, tuy khô hạn nhưng nếu ở bên sông suối, hồ biển thì dễ tìm nguồn nước.
Tiết Lập thu, ngũ cốc dồi dào, lương thực chất đầy, không phải lao đao vất vả. Đề phòng tiểu nhân hãm hại, không được u mê, đối nhân xử thế rộng lượng khoan dung, có thể mua nghiệp lớn, gặp thất bại nhưng không sợ tai họa, cả đời tài lộc dư thừa, không phải cầu cạnh ai.
Tiết Bạch lộ, lương thực dồi dào, chồng tài vợ đảm, hưởng trọn thú vui nhân gian. Tướng mạo thanh tú, thông minh nhạy bén xuất chúng, nhắc bút thành văn, vạn sự ắt thành, thường có chuyện bất bình nhỏ, được quý nhân phù trợ, có ngày thành công, không đựoc nản lòng, ắt thành nghiệp lớn.
Tiết Hàn lộ, là người cẩn trọng, ngại xuất đầu lộ diện, có thể lạnh lẽo rét mướt nhưng không lo cái ăn, có tài thành tướng, sẽ được người bạn đời đẹp đẽ hiền hậu, không giỏi kết bạn, giao tế, thiếu lòng tự tin, tự cường.
Tiết Lập đông, ngũ cốc về kho, nơi nơi trống rỗng, đôn đáo kiếm ăn, khó khăn vất vả. Tuy có chí đội trời đạp đất nhưng ít cơ hội, không đạt được kì vọng. Số mệnh thất thường, ít khi dư thừa, không làm không có ăn, làm thì hiếm đường hiếm ngả, nhiều trắc trở.
Tiết Đại tuyết, chuột phải tránh rét, miệng ăn núi lở, chờ thời cơ xuất đầu lộ diện, lập nghiệp muộn song có thể thành công, không gặp tiểu nhân, không xui xẻo rủi ro.
Tiết Tiểu hàn, cuối năm không chỉ có cái ăn cái mặc mà ngũ cốc thô đều làm lương thực chín, nấu rượu tích thịt để đón giao thừa, được ăn ngon, anh lành sung túc, no ấm cả đời.
Rất quyến rũ nhưng cũng đầy kiêu ngạo. Là một người của gia đình tuyệt vời và một nhà văn giỏi.
Hoạt động chậm rãi nhưng có cái nhìn sâu sắc. Vẫn bị thống bị bởi sự quyết liệt của con chuột nhưng bản tính liều lĩnh sẽ được hạn chế bởi sự cẩn thận của con bò.
Hung hăng và thích thống lĩnh, là một người rất ham thành tích. Tất cả sẽ tốt đẹp nếu họ biết tiết kiệm tiền bạc - nhưng con hổ trong họ sẽ phản kháng.
Dễ bảo và ăn nói nhẹ nhàng nhưng cũng biết tính toán. Sự quyến rũ của con chuột kết hợp với sự khôn khéo của con mèo sẽ khó mà đánh bại.
Con chuột với một trái tim mở rộng, đôi khi quá rộng so với hầu bao của nó. Họ sẽ cho bạn vay xong rồi lại hối tiếc. Ý chí mạnh mẽ của con rồng và tài kiếm tiền của con chuột sẽ khiến họ rất thành công trong kinh doanh.
Sẽ có vô số kẻ ngưỡng mộ. Họ sẽ luồn lách vào trái tim cũng như chiếc ví của bạn. Con rắn trong họ sẽ khiến họ cảnh giác với những hiểm nguy tiềm ẩn. Họ cũng hơi ma mãnh một chút.
Con chuột táo bạo quyết liệt sẽ rất mạo hiểm trong cuộc sống. Bộ óc không kiên định của con ngựa cũng khiến cho cuộc sống tình cảm của họ luôn biến động. Họ có thể lên voi mà cũng xuống chó.
Quá đa sầu đa cảm. Tuy nhiên, bạn có thể nhận thấy cách tiêu tiền của họ sẽ được điều hòa bởi gu thẩm mỹ cao. Cả hai cung đều là những kẻ cơ hội, nên họ sẽ rất giỏi trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của những người có quyền lực.
Rất bạo dạn, dám nghĩ dám làm. Họ biết mọi thủ đoạn và không ngần ngại sử dụng. Với sự ảnh hưởng của con khỉ, họ sẽ bớt ủy mị hơn và cũng có khiếu hài hước tuyệt vời.
Cực kỳ thông minh và tài năng. Nhưng lại gặp mâu thuẫn. Con chuột trong họ sẽ luôn bận rộn tích trữ tiền trong khi con gà lại chuyên lên kế hoạch chi tiêu. Họ có thể bù lại bằng cách áp dụng mọi khả năng của mình để điều hành kinh doanh bằng tiền của người khác.
Con chó trong họ sẽ luôn cố gắng công bằng và không định kiến, trong khi bản tính ham của cải của chuột sẽ khiến lương tâm con chó day dứt. Tuy nhiên, sự kết hợp này sẽ tạo nên một nhà văn tuyệt vời hoặc một nhà triết lý tài ba với ngọn bút sắc bén.
Con chuột sẽ ghét phải mang sự đắn đo chần chừ của con lợn bên trong. Nó sẽ khiến họ phải do dự khi có thể tận dụng được thời cơ. Họ sẽ có thể trở thành một người làm ơn mắc oán, trừ phi họ khôn ngoan hơn.
Xem thêm:
Tình yêu hôn nhân của người tuổi Tý với các tuổi khác
Tử vi Lục thập hoa giáp
Xem tử vi năm mới
![]() |
![]() |
Vè là một trong những thể loại văn học dân gian Việt Nam. Những bài vè chúc Tết có cách gieo vần đơn giản, đọc lên có nhịp điệu, nhạc điệu, sử dụng những ngôn từ hàng ngày của cuộc sống.
Những bài vè chúc Tết thường khác ngắn gọn, mang nhiều màu sắc dân gian, thân thuộc. Dưới đây, Phong thủy số giới thiệu tới bạn một số bài vè chúc Tết hay và ý nghĩa được phổ biến trong dân gian:

Những bài vè chúc Tết ý nghĩa vào đầu năm Đinh Dậu 2017 - Ảnh 1
.jpg)
Những bài vè chúc Tết ý nghĩa vào đầu năm Đinh Dậu 2017 - Ảnh 2

Những bài vè chúc Tết ý nghĩa vào đầu năm Đinh Dậu 2017 - Ảnh 3
Ngoài những bài vè chúc Tết thì những câu thơ chúc Tết, những lời chúc Tết ý nghĩa cũng là một trong những phong tục không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền Việt Nam.
: Tết 2017 Những lời chúc mừng năm mới hay Những câu thơ chúc tết hay nhất Những bài thơ chúc tết hay Những câu chúc mừng năm mới Những câu chúc tết hay Những lời chúc năm mới hay nhất cho bạn bè
4. Thương phố tầng trệt khu chung cư
Thương phố tầng trệt khu nhà ở, chỉ vị trí cửa hàng cửa hiệu nằm ở tầng trệt các công trình kiên trúc nhà ở (có thể bao gồm 1, 2 tầng hầm và 1,2 tầng dãy hoặc bộ phận tầng lầu trong đó).

Cửa hàng cửa hiệu tầng trệt khu nhà ở là hình thức đầu tư cửa hàng cửa hiệu mà thị trường trước mắt đang rất quan tâm, được người đầu tư hoan nghênh. Rất nhiều khu chung cư mở rộng hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn từ các gian hàng tầng trệt, nó không những tránh được việc khó bán các tầng trệt khu nhà ở mà còn thu hút được lượng đầu tư tương đối lớn. Đối với những người đầu tư vào cửa hàng cửa hiệu tầng thấp nhất của khu nhà ở mà nói, xét thấy kiến trúc các cửa hàng cửa hiệu của tầng trệt khu nhà ở sẽ mang đến một lượng khách hàng ổn định, các khách hàng tương lai tương đối đáng tin, nói cách khác, mức độ rủi do tương đối thấp.
5. Cửa hàng cửa hiệu trưng bách hoá thương mại, trung tâm mua bán
Sự kinh doanh tốt xấu của bách hoá thương mại và các loại hình trung tâm mua bán đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình kinh doanh của các cửa hàng cửa hiệu trong đó. Trước mắt, trong nước có rất nhiều loại hình này trong hạng mục kinh doanh, ngoài ra còn có không ít các hạng mục shopping mall trong kiến trúc mở rộng thành phố lớn và vừa trong nước.
6. Thương phố lầu thương vụ, lầu làm việc
Thương phố lầu thương vụ, lầu làm việc chỉ không gian thương nghiệp mở các thương nghiệp dùng bên trong như: tiệm rượu, nhà hàng khách sạn, câu lạc bộ, hội sở, trung tâm triển lãm, lầu làm việc… Các quy mô của thương phố loại này khá nhỏ, nhưng giá trị thương nghiệp rất đáng quan tâm.
7. Mở cửa hàng bên cạnh lề đường giao thông
Các cửa hàng cửa hiệu mở bên lề đường giao thông hoặc bên cạnh bến xe, bến tàu, ga tàu, sân bay, hoặc các cửa hàng nhỏ ở các ngã ba đường chính.
Bên trên là dựa theo hình thức mở rộng thương phố mà tiến hành phân loại. Phương thức phân loại này thuận tiện cho nhà đầu tư từ góc độ mở rộng hình thức mà tiến hành lý giải đối với các loại hình hạng mục thương phố, thuận tiện để xây dựng các thương phố với các hình thức kinh doanh phong phú.
Vật cát tường: Tì hưu
Ý nghĩa tượng trưng: Thúc đẩy tài vận phát triển, vượng tồi.
Giải thích: Loại mãnh thú này thân không có vảy, chân không có lông, thần thái uy vũ, cho nên rất tốt bày làm vật cát tường, thích hợp với thiên tài hoặc người làm nghề tuyển dụng, có hiệu ứng rất tốt đối với những người có thu nhập không ổn định. Khi bày chúng thì đầu chúng hướng ra bên ngoài cửa chính hoặc cửa sổ, như vậy mới có lợi cho việc cầu tài.
Vào dịp đầu năm, hầu hết các gia đình người Việt đều làm lễ đón thần tài. Theo quan niệm, ông tài ông địa rất gần gũi với dân chúng, luôn mang lại may mắn, tài lộc trong công việc kinh doanh. Vì thế, theo phong tục dân gian cho rằng đầu năm là dịp mọi người làm lễ cúng thần tài để cầu mong một năm mới tấn tài tấn lộc, thành công, may mắn và sức khỏe. Ngày vía thần tài thổ địa, chúng ta sẽ cùng Thư viện Phong thủy tìm hiểu rõ hơn ngay sau đây.

Xem thêm: Ngày không vong là gì
Ngày vía được định nghĩa là ngày liên quan đến tâm linh. Ngày vía này có thể là ngày sinh, ngày mất hay là ngày thành đạo. Ngày vía của ngày thần tài là ngày mùng 10 âm lịch hàng tháng. Trong ngày này, tất cả mọi người, mọi công ty, cửa hàng đều sắm lễ vật để cúng thần tài.
Trước đây, thần tài và ông địa thường được thờ cúng vào những ngày tết. Tuy nhiên hiện nay đa phần các gia đình làm kinh doanh, buôn bán vẫn thờ cúng thần tài mỗi ngày bằng hoa thơm quả ngọt, bánh kẹo đầy đủ với mong muốn được ông thần tài phù hộ cho việc kinh doanh thuận lợi, buôn may bán đắt, được nhiều tài lộc.
Nhưng nhìn chung ngày vía thần tài thổ địa rơi vào ngày mùng 10 hàng tháng.
Đầu năm, mỗi gia đình đều làm lễ đón thần tài theo phong tục dân gian. Lịch trình cụ thể là mùng 2 làm lễ đón hỷ thần, mùng 3 đón tài thần và mùng 4 là đón các vi thần khác.
+ Lễ cúng mặn đón ngày vía thần tài thổ địa vào ngày mùng 10 từ tháng 1 âm lịch đến tháng 6 âm lịch bao gồm: 1 bình bông thọ, 1 mâm ngũ quả tùy từng vùng miền, 5 cây nhang, 2 đèn cầy hoặc nến, 2 điếu thuốc, gạo, muối, vàng bạc đại 2 miếng, rượu. Ngoài ra một bộ tam sên sẽ có 1 miếng thịt heo luộc, 1 quả trứng vịt, 1 con tôm hoặc cua luộc.
+ Lễ cúng chay trong ngày vía thần tài thổ địa từ tháng 7 âm lịch cho đến cuối năm: vật dụng vẫn là các đồ cúng trên trừ rượu và thịt, hãy thay thế bằng các loại bánh kẹo ngọt hoặc xôi chè chay...
+ Khi làm bàn thờ thần tài, cúng thần tài mọi người cần hết sức chú ý không được đặt bàn thờ ở sát nhà tắm, không nhìn vào phòng tắm, phòng ngủ...bởi sẽ làm mất đi sự tôn nghiêm.
+ Không đặt bàn thờ thần tài ở lối đi lại
+ Tránh không đặt bàn thờ thần tài nhìn ra hướng ngũ quỷ đó là đông bắc và tây nam.
+ Khi làm lễ cúng nhớ ăn mặc nghiêm trang để đảm bảo sự thanh tịnh.
Bên trên là một vài điều cần biết về ngày vía thần tài thổ địa mà mọi người cần biết, hãy tham khảo, bổ sung kiến thức về ngày này để từ đó làm lễ cúng được đúng bài bản nhé.
Để xem những ngày tốt khác, bạn có thể tham khảo thêm tại đây: Xem ngày tốt xấu
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
| ► Tham khảo thêm: Đặt tên cho con theo phong thủy để có vận mệnh tốt đẹp |
Nếu có ý định sinh con trong năm Ất Mùi, cha mẹ có thể tham khảo các cách đặt tên cho con tuổi Dê dưới đây.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Người tuổi Thìn thường có số đào hoa rất tốt và phát triển nhất khi họ qua 26 tuổi, đặc biệt là đối với nam giới.
Nữ giới tuổi Thìn thường biết kiềm chế tình cảm trong khi yêu. Với họ tình yêu "sét đánh" khó có thể xảy ra. Chính đặc điểm này khiến nữ giới tuổi Thìn mất đi khá nhiều ưu thế trong tình yêu. Lời khuyên dành cho họ là nên nắm bắt cơ hội để có được người yêu thương thực sự.
Để tạo sự hấp dẫn với phái kia, người tuổi Thìn nên chọn cho mình những bộ trang phục có đường may gợi cảm, táo bạo với gam màu vàng hoặc đỏ. Nữ giới hợp với kiểu tóc được uốn xoăn thành lọn tạo cá tính và sức hấp dẫn.
Theo phong thủy, những đồ vật đem lại may mắn và tình yêu cho người tuổi Thìn là: hoa giọt tuyết, quả dâu tây, hồng ngọc.
(Theo Bách khoa toàn thư 12 con giáp)
Thời gian: tổ chức từ đêm ngày 23 tháng 4 đến ngày 27 tháng 4 âm lịch.
Địa điểm: Miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đối tương suy tôn: nhằm suy tôn Bà Chúa Xứ
Nội dung: Phần lễ của lễ Vía Bà gồm năm lễ: Lễ tắm Bà, Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà, Lễ Túc Yết, Lễ xây chầu, Lễ Chánh tế.
Lễ tắm Bà. Lễ này được tổ chức vào lúc 24 giờ đêm 23 rạng ngày 24. Nói là tắm bà, nhưng thực tế là lau lại bụi bặm trên tượng thờ và thay áo mão cho Bà. Nước tắm tượng là nước thơm, bộ y phục cũ của Bà được cắt nhỏ ra phân phát cho khách trẩy hội và được coi như lá bùa hộ mệnh giúp cho người khoẻ mạnh và trừ ma quỷ. Lễ tắm Bà thường kéo dài khoảng một giờ, sau đó mọi người được tự do lễ bái.
Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về Miếu Bà:Lễ này được tiến hành vào lúc 15 giờ ngày 24.Các bô lão trong làng và Ban quản trị lăng miếu lễ phục chỉnh tề sang lăng Thoại Ngọc Hầu nằm đối diện với miếu bà làm lễ Thỉnh Sắc rước bài vị của Ngọc Hầu Nguyễn văn Thoại, bà nhị phẩm Trương Thị Miệt, và bài vị Hội đồng. Khi vào đến Miếu Bà, các bài vị trên được an vị ngôi chính điện, Ban quản trị dâng hương thỉnh an, lễ thỉnh sắc kết thúc. Tục lệ thỉnh sắc Thoại Ngọc hầu đã có từ lâu để tỏ lòng biết ơn ông là người có công khai phá vùng đất hoang vu này.
Lễ Túc Yết: Lễ được tổ chức 0 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Tất cả các bô lão trong làng và Ban quản trị lăng miếu lễ phục chỉnh tề, đứng xếp hàng hai bên trước tượng Bà. Vật cúng gồm có: một con heo trắng (đã được cạo lông mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết có ít lông heo gọi chung là "mao huyết", một mâm xôi, một mâm trái cây, một mâm trầu cau, một đĩa gạo muối. Ông chánh bái làm lễ dâng hương, chúc tửu, hiến trà, dâng tế, sau đó thì hóa một ít giấy vàng bạc.
Lễ xây chầu: Sau cúng túc yết là Lễ xây chầu.Ông chánh bái sẽ bước tời bàn thờ đặt giữa võ ca, hai tay cầm dùi trống nâng ngang trán khấn vái. Phía bên trái bàn thờ có một tô nước và một nhành dương liễu. Ông chánh bái ca công cầm nhành dương nhúng vào tô nước rồi vảy nước ra xung quanh, vừa đọc to những lời cầu nguyện. Đọc xong, ông chánh bái ca công đặt tô nước, cành dương trở lại bàn thờ, ông đánh ba hồi trống và xướng "ca công tiếp giá", lập tức đoàn hát bộ nổi chiêng trống rộ lên và chương trình hát bộ bắt đầu. Các tuồng hát bộ sau đây thường được diễn tại miếu bà: Trần Bình Trọng, Sát Thát, Lưu Kim Đính, Trưng Nữ Vương v.v...
Lễ Chánh tế: Đến 4 giờ sáng ngày 26 cúng Chánh tế (nghi thức giống như cúng "túc yết"). Chiều ngày 27 đưa sắc Thoại Ngọc hầu về Sơn Lăng.
Phần hội diễn ra rất sôi nổi đan xen với phần lễ,các hoạt động văn hoá nghệ thuật dân gian được biểu diễn như múa lân, múa mâm thao, múa đĩa chén...thu hút nhiều du khách.
Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam là một lễ hội mang bản sắc dân tộc đậm nét, nhưng cũng chứa đựng nhiều màu sắc địa phương Nam Bộ. Lễ hội thực sự là một lễ hội văn hoá dân gian đáp ứng nhu cầu văn hoá xã hội, đời sống tinh thần của nhân dân.
Cứ đến mùa Vu lan, hầu hết người Việt Nam, dù ở bất cứ nơi đâu, cũng đều được dự lễ “Bông Hồng cài áo”, để tưởng nhớ công ơn của Mẹ, dù còn hiện tiền hay không còn lưu dấu. “Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù Người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa”. (Tản văn “Bông hồng cài áo” của Hoà Thượng Thích Nhất Hạnh)
Mùa Vu lan về, tôi lại nặng trĩu lòng khi nhớ đến Mẹ. Thực ra nói và viết về Mẹ đã là một việc làm không phải, mà phải sống như Mẹ, sống tốt với Mẹ, bây giờ Mẹ không còn thì dù ta có nói hay mấy đi nữa cũng chẳng ăn thua gì đâu. Tuy vậy, trên thực tế vẫn có những câu thơ, những áng văn bất hủ để ca ngợi hình ảnh thiêng liêng và giá trị tình thương vô bờ bến của Mẹ, cũng chính là để nhắc nhở những ai có hạnh phúc đang còn Mẹ, rằng hãy đừng quên, và đừng làm Mẹ buồn khổ.
Trong nhân gian, ai mà lại không có Mẹ. Từ người làm vua cho đến kẻ cùng đinh hà tiện tất thảy đều do Mẹ sinh ra và nuôi lớn. Mẹ của người làm vua và Mẹ của kẻ cùng đinh hà tiện đều thương con như nhau, dù khổ đau lam lũ hay hạnh phúc cao sang thì giá trị tình thương của Mẹ vẫn luôn không thay đổi. Thế nhưng những người con thương Mẹ thì lại khác.
Tôi cũng được cài bông hồng, nhưng lại “phải” cài bông hồng màu Trắng, rất quý nhưng rất buồn. Nhìn mọi người cài hoa cho nhau trong những ngày lễ Cài bông hồng lúc trước tôi như chìm hẳn vào dòng suy tư miên man, và bỗng suy nghĩ về xuất xứ của ngày lễ này (lễ “Bông hồng cài áo”). Lễ cài bông hồng lên áo đã như là một lễ hội đối với người Việt nói chung và giới Tăng Ni Phật tử nói riêng, cho dù bạn có là Phật tử hay chưa phải là Phật tử bạn cũng được tham dự và được cài bông hồng, đó là giá trị tinh thần và giá trị văn hoá, giáo dục cao. Đã là lễ hội vậy nó có từ lúc nào? Tại sao lại là bông hồng mà không là loại bông hoa nào khác? Và lễ hội này là của người Việt Nam hay còn dân tộc nào khác?
Vào những năm cuả thập niên 60 ở thế kỷ trước, cài bông hồng trong một dịp kết thúc khoá tu do Hoà thượng Thích Nhất Hạnh tổ chức, theo Ngài là có một ý nghĩa đền đáp “Tứ ân” và để nhắc nhở với đại chúng trong lúc tham dự, về sự biết ơn, báo ơn nhằm hoá giải những oán kết giữa con người với vạn loại trong cuộc sống vốn có nhiều mối ràng buộc chằng chịt với nhau, đó cũng chính là tông chỉ của tình thương và hoà hợp.
Sau đó nghi thức “Bông hồng cài áo” được giới thiệu với người Việt từ một cuốn sách cùng tên của Hoà thượng Thích Nhất Hạnh, được viết vào tháng 8 năm 1962, cùng thời điểm đó nhạc sỹ Phạm Thế Mỹ đã sáng tác nhạc phẩm “Bông hồng cài áo” - đến nay bài hát đó được coi như là “bài hát vàng” (xin đừng hiểu lầm là “nhạc vàng"). Từ đó nghi thức cài bông hồng trong ngày Vu lan được phổ thông hoá và trở thành ngày lễ, đến nay là trên bốn mươi lăm năm.
Tại Mỹ, Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ 2 của tháng 5. Đây là dịp mà những người mẹ nhận được nhiều thiệp, quà và hoa. Ngày của mẹ đầu tiên được tổ chức tại Philadelphia, năm 1907, dựa vào ý kiến của Julia Ward Howe năm 1892 và của Anna Jarvis năm 1907. Mặc dù trước đó chưa hề có Ngày của Mẹ nhưng vẫn có những sự kiện đặc biệt dành cho mẹ ở Hy Lạp trước đó để tỏ lòng thành đối với Người mẹ của các vị thần, Rhea, vợ của Cronut
Sau đó, tại Anh, vào những năm của thập niên 1600 vẫn có những ngày gọi là Ngày chủ nhật của Mẹ, được tổ chức trong dịp lễ Phục Sinh, vào ngày chủ nhật thứ tư. Vào ngày này, những nô lệ được trở về nhà thăm mẹ. Việc tặng mẹ những chiếc bánh đặc biệt cùng với việc tổ chức lễ hội cũng dần trở thành truyền thống.
Các nước trên thế giới cũng tổ chức Ngày của Mẹ vào những thời gian khác nhau trong năm. Tại Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhĩ Kì, Úc và Bỉ, ngày của mẹ cũng được tổ chức vào ngày chủ nhật thứ 2 của tháng năm, sau dịp Lễ Tạ Ơn.
Nhật cũng lấy ngày Chủ nhật thứ 2 trong tháng 5 là ngày của Mẹ (Mother's Day). Trong ngày này, con cái thường tặng mẹ hoa cẩm chướng đỏ (carnation) và những món quà nho nhỏ để bày tỏ lòng kính yêu mẹ.
Phong tục này khởi đầu từ thành phố Grafton, West Virginia (Hoa Kỳ) vào ngày 09 tháng 05 năm 1907 và người đầu tiên lấy hoa cẩm chường đỏ và trắng để vinh danh các bà mẹ là cô Anna Jarvis. Cô là người bỏ cả đời ra để vận động cho một ngày lễ mẹ trên toàn quốc Hoa Kỳ để vinh danh các bà mẹ, trong đó có thân mẫu của cô đã tận tụy nuôi 11 người con. Hôm đó là ngày chủ nhật mồng 9 tháng 5, Anna đã tổ chức một ngày Mother's Day trong nhà thờ nhỏ tại Grafton. Khi đó, Mother's day chưa được chấp thuận là National Holiday.
Anna Jarvis từ Grafton, West Virginia bắt đầu cuộc vận động để tổ chức Ngày lễ Quốc tế dành cho Mẹ. Anna Jarvis thuyết phục mẹ của bà ở nhà thờ tại Grafton để tổ chức Ngày của Mẹ ngay dịp giỗ của bà ngoại của bà. Thế là một loạt các nghi thức được tổ chức vào ngày 10 tháng 5 năm 1908 tại Philadelphia vào năm sau đó. Cùng với một số người khác, Anna Jarvis cũng bắt đầu viết những lá thư vận động gửi đến các nhà cầm quyền, thương nhân, chính trị gia để trình bày về việc tổ chức Ngày của Mẹ và họ đã thành công. Woodrow Wilson đã làm bảng thông cáo về việc chính thức tổ chức Ngày của Mẹ vào ngày chủ nhật thứ 2 của tháng 5 từ năm 1914.
Các nước phương Tây có khởi nguồn phong tục ngày của Mẹ (Mother’s day) vào sau dịp Lễ Tạ ơn, vì hầu hết họ theo Thiên Chúa giáo, và dùng hoa cẩm chướng đỏ và trắng là theo truyền thuyết Ki tô giáo, hoa cẩm chướng sanh ra từ những giọt nước mắt của Đức mẹ Maria lúc bà theo chân Chúa Jesus trên đoạn đường vác thánh giá. Vì vậy, hoa cẩm chướng tượng trưng cho tình yêu bất tử của người Mẹ. Và trong ngày lễ là các con tặng quà, hoa, thiệp và bánh cho Mẹ (chứ không phải tặng nhau).
Do vậy ở người Việt ta có giá trị văn hoá và phong tục Á đông (đại đa số là theo Phật), nên lấy ý nghĩa tri ân và báo ân cha mẹ mà tặng hoa cho nhau để nhắc nhở nhau kính trọng cha mẹ, sống thật tốt với cha mẹ. Điều quan trọng là đối với người Việt bông hồng thông dụng và dễ thương nhất, mang quy ước biểu hiện tình yêu, và do có một khởi đầu từ nghi thức tặng hoa hồng trong khoá tu của Hoà thượng Thích Nhất Hạnh và giới thiệu nó trong cuốn sách có tựa đề “Bông hồng cái áo” của Ngài nên đến nay chúng ta sử dụng hoa hồng trong ngày lễ, chứ thực ra hoa gì cũng được, miễn đẹp là được rồi, với lại giá trị của sự việc là ở chỗ tinh thần chứ không phải ở hoa.
Tấm lòng đẹp thì hoa gì cũng đẹp, tấm lòng đã không đẹp thì hoa lưu ly cũng vậy thôi.
![]() |
| ► Lịch ngày tốt gửi đến độc giả những câu chuyện về thế giới tâm linh huyền bí có thật? |
Hình xăm Quan Công – Quan Vũ – Quan Vân Trường mang lại vận khí cho người sở hữu, tránh tà ma và những điều không may mắn. Lựa chọn xăm hình Quan Công – Quan Vân Trường là để đề cao đức tính trung hiền, nghĩa khí và quân tử. Đồng thời hình xăm quan công cũng là cách để người sở hữu thể hiện cái uy quyền, bản lĩnh sống và ý chí sống mạnh mẽ giống như Quan Công – Quan Vân Trường có uy trùm ba quân.

Quan Vũ ( 162 – 220), cũng được gọi là Quan Công hay Quan Vân Trường , tự là Vân Trường , là một vị tướng thời kỳ cuối nhà Đông Hán và thời Tam Quốc ở Trung Quốc. Quan Công là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục Hán, với vị hoàng đế đầu tiên là Lưu Bị. Quan Công cũng là người đứng đầu trong số ngũ hổ tướng của nhà Thục Hán theo cách nói của tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa, bao gồm: Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung và Mã Siêu. Quan Công là anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi.

Là một trong những nhân vật lịch sử của Trung Quốc được biết đến nhiều nhất ở khu vực Đông Á, hình tượng của Quan Công – Quan Vân Trường đã được tiểu thuyết hóa trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và sau này được khắc họa trong các dạng hình nghệ thuật như kịch, chèo, tuồng, phim ảnh v.v với những chiến tích và phẩm chất đạo đức được đề cao cũng như được thần thánh hóa trong các câu chuyện dân gian, bắt đầu từ thời kỳ nhà Tùy (581 – 618).
Quan Công – Quan Vân Trường cũng được thờ cúng ở nhiều nơi với tượng mặt đỏ, râu dài, tay cầm cây thanh long yển nguyệt và/hoặc cưỡi ngựa xích thố, đặc biệt là ở Hồng Kông. Tương truyền thanh long đao của Quan Vân Trường nặng 82 cân (khoảng 40 kg ngày nay). Trong khi dân gian xem Quan Vân Trường – Quan Công như một biểu tượng của tính hào hiệp, trượng nghĩa thì các nhà sử học cũng phê phán ông về các tính kiêu căng, ngạo mạn.

Quan Công – Quan Vân Trường được dân gian tạc tượng và vẽ tranh rất nhiều, theo mô phỏng sự mô tả của Kinh Minh thánh: mày tằm hình chữ bát, mắt phượng sáng như sao, râu rồng rõ năm chòm, trán hùm thân lẫm liệt.
Thông dụng hơn cả trong tranh, tượng dân gian là hai kiểu: tượng ba ông và tượng năm ông.
Tượng ba ông gồm có Quan Công mặc giáp phục ngồi giữa hổ trướng, tay vuốt râu, tay kia cầm Kinh Xuân Thu; sau lưng hai bên có Quan Bình đứng bên trái giữ ấn, Châu Thương đứng bên phải giữ thanh long đao.
Tượng năm ông tương tự như tượng ba ông, nhưng có vẽ thêm Trương Tiên cầm cung và Vương Thiên Quân cầm giản đứng hầu.

Tại Việt Nam, Việc thờ Quan Vũ ở Việt Nam có từ nhiều thế kỷ, từ Bắc đến Nam. Người Việt Nam thờ ông trong nhiều chùa, thờ chung với Phật. Người Việt gọi là Hán Thọ Đình Hầu – hay phổ biến là Quan Thánh Đế Quân. Trong dân gian tôn là thần Trung Nghĩa. Bàn thờ thường đặt trong điện Quan Đế
Hình xăm Quan Công – Quan Vân Trường mang lại vận khí cho người sở hữu, tránh tà ma và những điều không may mắn. Lựa chọn xăm hình Quan Công – Quan Vân Trường là để đề cao đức tính trung hiền, nghĩa khí và quân tử. Đồng thời hình xăm quan công cũng là cách để người sở hữu thể hiện cái uy quyền, bản lĩnh sống và ý chí sống mạnh mẽ giống như Quan Công – Quan Vân Trường có uy trùm ba quân.
Viết về phong tục cổ truyền mà cố tình lảng tránh vấn đề này, ắt không thoả mãn yêu cầu của số đông bạn đọc, vì lễ cưới, lễ tang, xây nhà dựng cửa, khai trương, xuất hành... còn nhiều ngươi, nhiều nơi chú trọng ngày lành. Đó là một thực tế. Ngặt vì có một số người bài bác hẳn, cho là gieo rắc mê tín dị đoan; một số khác lại quá mê tín, nhất là việc lớn việc nhỏ, việc gì cũng chọn ngày, từ việc mua con lợn, làm cái chuồng gà, cắt tóc cho con, đi khám bệnh... mọi điều may rủi đều đổ lỗi cho việc không chọn ngày, chọn giờ. Một số đông khác tuy bản thân không tin nhưng chiều ý số đông, làm ngơ để cho vợ con đi tìm thầy lễ, thầy cúng định ngày giờ xét thấy không ảnh hưởng gì nhiều, hơn nữa, để tránh tình trạng sau này lỡ sẩy ra sự gì không lành lại đổ lỗi cho mình "Báng".
Thế tất một năm, năm mười năm, đối với một người đã đành, đối với cả nhà, cả chi họ làm sao hoàn toàn không gặp sự rủi ro!. ngày tốt, ngày xấu về khí hậu thời tiết thì dự báo của cơ quan khí tượng là đáng tin cậy nhất. Khoa học đã dự báo được hàng trăm năm những hiện tượng thiên nhiên như nhật thực, nguyệt thực, sao chổi, sao băng... chính xác đến từng giờ phút. Nhưng tác động của tự nhiên sẽ tạo nên hậu quả xấu đối với từng người, từng việc, từng vùng ra sao, đó còn là điều bí ẩn. thời xưa, các bậc trí giả tranh cãi nhiều vẫn chưa ngã ngũ nên ai tin cứ tin, ai không tin thì tuỳ "Linh tại ngã, bất linh tại ngã" (cho rằng thiêng cũng đã tự mình ra, cho rằng không thiêng, cũng tự mình ra), "Vô sư vô sách, quỉ thần bất trách" (không biết vì không có thầy, không có sách, quỷ thần cũng không trách).
Thực tế, có ngày mọi việc mọi điều đều thành công, nhiều điều may mắn tự nhiên đưa tới; có ngày vất vả sớm chiều mà chẳng được việc gì, còn gặp tai nạn bất ngờ. Phép duy vật biện chứng giải thích đó là qui luật tất nhiên và ngẫu nhiên. Trong tất nhiên có yếu tố ngẫu nhiên, trong ngẫu nhiên cũng có yêú tố tất nhiên. Lý luận thì như vậy nhưng có bạn đọc cũng muốn biết cụ thể trong tháng này, ngày nào tốt, ngày nào xấu, ngày nào tốt cho việc làm nhà, cưới vợ, tang lễ phải chánh giờ nào...Đa số bà con ta vẫn nghĩ "có thờ có thiêng, có kiêng có lành", nhất là khi điều khiêng đó không ảnh hưởng gì mâý tới công việc cũng như kinh tế...
Thời xưa, mặc dầu có người tin, có người không tin, toà Khâm thiên giám ban hành "Hiệp kỷ lịch", mà số người biết chữ Hán khá nhiều nên phần đông các gia đình cứ dựa vào đó mà tự chọn ngày giờ. Thời nay, rải rác ở các làng xã, còn sót lại một vài người còn biết chữ Hán nhưng sách vở cũ hầu như không còn, các gia đình muốn xem ngày giờ để định liệu những công việc lớn đành mất công tốn của tìm thầy. Khốn nỗi, mỗi thầy phán một cách, chẳng biết tin ai. Đã có trường hợp, bốn ông bà thông gia vì việc chọn ngày tốt xấu, tuổi hợp tuổi xung, tranh cãi nhau phải chia tay để lại mối hận tình. Gần đây trên thị trường xuất hiện cuốn sách viết về cách xem ngày tính giờ. Cũng có tác giả có kiến thức, có tư liệu, viết rất thận trọng, nhưng ngược lại có người viết rất cẩu thả, dựa theo thị hiều thương trường, vô căn cứ với động cơ kiếm tiền bất chính. Có cuốn sách tốt xấu, thực hư lẫn lộn, không có tên nhà xuất bản, không có tên tác giả, không ghi xuất xứ của tư liệu...Cùng một ngày, cuốn này, ghi nên xuất hành, cưới hỏi, cuốn khác ghi kỵ xuất hành, cưới hỏi, làm người xem rất hoang mang. "Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay", biết tin vào đâu? Biết tìm ai mà hỏi?
Để đáp ứng nhu cầu của một số bạn đọc, chúng tôi xin trích dẫn một số tư liệu khoa học và toàn văn bài "Xem ngày kén giờ" của học giả Phan kế Bính đăng trong cuốn "Việt Nam phong tục"xuất bản năm 1915, tái bản năm 1990 tại nhà xuất bản thành phố Hồ Chí minh và chúng tôi xin có phần chủ giải (cũng bằng những câu hỏi). Nhưng trước khi xem nên nhắc lại các bạn: "Khi gia đình có việc hệ trọng, cần nhiều người tham dự thì càng thận trọng càng hay, nhưng chớ quá câu nệ nhiều khi nhỡ việc. Mỗi người một thuyết, mỗi thầy một sách, rối rắm quá, có khi cả tháng không chọn được ngày tốt. Xem như trong cuốn "Ngọc hạp kỷ yếu" không có một ngày nào hoàn toàn tốt, hoặc hoàn toàn xấu đối với mọi người, mọi việc, mọi địa phương.
Có ngày tối ngày xấu không?
Có những bạn đọc hỏi: Chúng ta đã từng phê phán và sẽ tiếp tục phê phán mọi loại thầy bói, mê tín dị đoan, bịp bợm. Nhưng gần đây lại thấy nhiều người bảo: Khoa học có thể tính toán để biết trước ngày tốt, ngày xấu, thực hư ra sao?
Thầy bói là người hành nghề mê tín, biết nắm tâm lý. "Bắt mạch" đối tượng (qua nét mặt, lời nói, chi tiết trình bày và những câu thăm dò...). Nhưng bài viết này không nói về họ mà chỉ điểm qua những điều khoa học dự tính để biết trước ngày lành, tháng tốt... của mỗi người.
Nhịp sinh học - đặc điểm của sự sống: Nghiên cứu mọi cơ thể sống đều thấy hoạt động của chúng không phải lúc nào cũng giống lúc nào mà có khi mạnh khi yếu, khi nhanh khi chậm... Những thay đổi đó nhiều khi xảy ra rất đều đặn và liên tiếp thành chu kỳ, còn gọi là nhịp sinh học: Có nhịp ngàyđêm, nhịp tháng (liên quan đến âm lịch) nhịp mùa xuân, hạ, thu, đông... Các nhịp sinh học có tính di truyền. Pháp hiện ra các nhịp sinh học người ta nhận thấy các quá trình sinh lý trong cơ thể có thể biến đổi theo thời gian. Sự biến cố đó có tính chất chu kỳ và tuần hoàn (lặp đi lặp lại khá đều đặn).
Nghiên cứu về sự chết và tỷ lệ chết của con người, thấy có nhiều biến đổi tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây chết. Thí dụ: Vào khoảng 3-4 giờ sáng áp suất máu thấp nhất, não được cung cấp lượng máu ít nhất nên người bệnh hay bị chết nhất. Các cơn động kinh thường có giờ. Bệnh nhân hen cũng thườg lên cơn hen về đêm vào khoảng 2-4 giờ sáng (trùng với thời gian bài tiết cóc- ti-cô-ít ra nước tiểu xuống tới mức thấp nhất). Cơn hen về đêm nặng hơn cơn hen ban ngày. Những biến đổi có tính chất chu kỳ hàng năm thì có nguy cơ chết về đau tim cao nhất là vào tháng giêng đối với một số nước ở bán cầu phía Bắc. Cao điểm hàng năm của các vụ tự tử ở bang Min-ne-so-ta cũng như ở Pháp là vào tháng 6. Hai nhà khoa học An-đơ-lô-ơ và Mét đã phân tích 3620 trường hợp tai nạn lao động và thấy làm ca đêm ít tai nạn hơn làm ca sáng và chiều.
Ngày vận hạn của mỗi người: Trên cơ sở tính toán ảnh hưởng của các yết tố vũ trụ lên trái đất và bằng phương pháp tâm sinh lý học thực nghiệm, người ta đã rút ra kết luận là từ khi ra đời, cuộc sống của mỗi người diễn ra phù hợp với ba chu kỳ riêng biệt: Chu kỳ thể lực: 23 ngày, chu kỳ tình cảm 28 ngày, chu kỳ chí tuệ 33 ngày. Mỗi chu kỳ gồm hai bán chu kỳ dương và âm. Bán chu kỳ dương (1/2 số ngày của đầu chu kỳ) được đặc trưng bằng sự tăng cường khả năng lao động. Còn bán chu kỳ âm (1/2 số ngày cuối chu kỳ)thì các hiện tượng đều ngược lại. Cả ba chu kỳ trên đều chuyển tiếp từ bán chu kỳ dương sang bán chu kỳ âm. Ngày trùng với điểm chuyển tiếp này là ngày xấu nhất của mỗi chu kỳ. Thực tế đã chứng minh: Đối với chu kỳ tình cảm, vô cớ. Đối với chu kỳ trí tuệ, đó là ngày đãng trí, khả năng tư duy kém. Đặc biệt đối với chu kỳ thể lực, đó là ngày thường sảy ra tai nạn lao động. Đối với hai chu kỳ, số ngày chuyển tiếp trùng nhau chỉ xảy ra một lần trong một năm. Ngày trùng hợp đó của ba chu kỳ là ngày xấu nhất, có thể coi là ngày "Vận hạn" của mỗi người.
Nếu biết ngày, tháng, năm sinh của mỗi người, nhờ máy tính điện tử có thể dễ dàng xác định được các chu kỳ, điểm chuyển tiếp và sự trung hợp điểm chuyển tiếp giữa các chu kỳ.
Công ty giao thông của Nhật Bản Omi Reilvei đã áp dụng thành tựu vào bảo vệ an toàn giao thông. Họ đã xác định các chu kỳ, các điểm chuyển tiếp giữa các chu kỳ của từng người lái và báo cho lái xe biết trước những "ngày xấu" để họ phòng tránh. Nhờ đó số tai nạn giao thông ở Nhật Bản đã giảm đi rất nhiều, đặc biệt vào đầu năm áp dụng (969-1970) số tai nạn giao thông đã giảm hản 50%.
Theo Cup-ria-nô-vích (Liên Xô cũ) thì giả thuyết về nhịp tháng của các quá trình sinh học xác định ba trạng thái của cơ thể, không chỉ áp dụng ở Nhật Bản mà còn được áp dụng ở nhiều nước Tây Âu vào công tác an toàn, giao thông nói riêng, an toàn lao động nói chung.
Các vấn đề trên đây không phải là "thầy xem bói nói mò" mà dựa vào một dữ kiện thực tế nhất định. Nó cũng phù hợp với nhận thức về mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố địa vật lý vũ trụ với các quá trình hoạt động chức năng của cơ thể.
(Bác sĩ Vũ Định- Trích báo "Hà nội mới chủ nhật" số 73)
Vua Trần Minh Tông với việc chọn ngày làm lễ an táng mẹ.
Năm 1332 Thuận thánh Bảo từ Hoàng Thái Hậu mất. Con là Thượng Hoàng Minh Tông lúc đó đã nhường ngôi cho con là Hiến Tông. Thượng hoàng sai các quan chọn ngày chôn cất. Có người tâu rẳng: "Chôn năm nay tất hại người tế chủ". Thượng hoàng hỏi : "Người biết sang năm ta nhất định chết à?". Người ấy trả lời không biết. Thượng hoàng lại hỏi: "Nếu sang năm trở đi ta chắc chắn không chết thì hoán việc chôn mẫu hậu cũng được, nếu sang năm ta chết thì lo xong việc chôn cất mẫu hậu chẳng hơn là chết mà chưa lo được việc đó ư? Lễ cát, lễ hung phải chọn ngày là vì coi trọng việc đó thội, chứ đâu phải câu nệ hoạ phúc như các nhà âm dương".
Rốt cuộc vẫn cử hành lễ an táng.
coi là Cấn Quái, phương Tây Nam trong Bát Quái được coi là Khôn Quái, tính chất của chúng là thuộc Thố, còn Quái tướng của nhà tắm là thuộc Thủy. Đem nhà tắm thuộc Thủy đặt trên Cấn Phương và Khôn Phương thuộc Thổ sẽ sinh ra bất lợi thổ khắc Thủy, vì thế đó là đại hung.

Trong phong thủy nhà ở, để nhà tắm không mang lại hung tướng, tốt nhất nên đặt ở hướng Tây Bắc, Đông Nam hoặc phía đông (nhìn từ trung tâm ngôi nhà), đồng thời, cần phải tránh hương tương xung với năm sinh của nam nữ chủ nhà. Nếu nhà tắm ở hướng Bắc hoặc hướng Đông Bắc thì cần chuyển nhà tắm sang phương vị khác, chì cần tránh trung tâm chính Bắc 150 (phạm vi Tý), Đông Bắc lệch về Bắc 150 (phạm vi Sửu) và trung tâm nông Bắc 150 (phạm vi Cấn) là được. Nếu tính toàn bộ nhà vệ sinh đều nằm trên hướng Bắc hoặc Đông Bắc thì chỉ cần đặt bồn cầu lệch đi phương vị đó trên 150 là được. Nếu bồn cầu nằm trong phạm vi này thì chỉ cần dịch chuyển bồn cầu là được, không cẩn phải cải tạo là nhà tắm.
Ngoài hướng Bắc và hướng Đông Bắc ra, nhà tắm nằm trên hướng Tây Nam cùng thuộc hung tướng. Nếu cần dịch chuyển thì chỉ có thể dịch chuyển sang hướng Tây hoặc Tây Bắc. Nhà tắm nằm ở hướng Tây cũng không tốt, song chỉ cần trong nhà không có người sinh năm Dậu thì không cần phải lo lắng. Để thiết kế vẹn toàn, có thể đặt bồn cầu ở hướng Tây Bắc, cũng không nên đặt nhà vệ sinh ở hướng Nam, tốt nhất chuyển sang phương vị Đông, Đông Nam, Tây Bắc, bởi vì hướng Nam là phương vị sáng sủa, hướng Nam là Ly Quái, Ngũ hành thuộc Hòa, còn nhà tắm Ngũ hành thuộc Thủy, nhà tắm thuộc Thủy đặt ở hướng Nam thuộc Hỏa là nhà tắm đã khắc với Hỏa Địa, vì thế bất cát. Nhà tắm nếu nằm trên phương vị này thì có thể ảnh hưởng đến vận khí.
Còn một điểm nữa cũng vô cùng quan trọng, nhà vệ sinh không nên đặt ờ vị trí trung tâm nhà, nguyên nhân như sau:
Một là, dựa vào phương vị “lạc thư”, trung tâm nhà thuộc Thổ, còn nhà vệ sinh, nhà tắm thuộc Thổ, nếu đem nhà vệ sinh thuộc Thủy đặt vào vị trí trung tâm thuộc thổ thì sẽ xảy ra sự tương khắc, Thổ khắc Thủy. Không những trái với đạo phong Thủy mà còn gây mất thẩm mỹ, không tạo được ấn tượng.
Hai là, nhà tắm, nhà vệ sinh đặt ở vị trí trung tâm nhà ở thì việc cấp nước và xả nước đều phải đi thông qua các phòng khác nên việc sửa chữa là vô cùng khó khăn. Nếu đường ống xả nước thải cũng đi qua các phòng khác vậy thì càng bất cát.
Ba là, trung tâm nhà cũng như trái tim con người vậy, vô cùng quan trọng, tim tạng mà tăng ô nạp uế thì còn được gọi là “cát trạch” nữa không?
Ngoài ra, dịch chuyển vị trí nhà vệ sinh tuyệt đối không được xây nó sát với thần đàn (nơi thờ cúng), nếu không thì sẽ bị biến thành hung tướng.
Thảm trải là một vật dụng được sử dụng thường xuyên trong trang trí nhà ở. Trên thực tế, việc lựa chọn thảm trài trong phong thủy cũng có nhiều điểm đáng lưu ý.
Nhìn chung, mọi người chỉ nên coi tấm thảm nhà cũng như những vật trang trí thông thường khác. Bởi vậy, thảm trải tốt nhất không nên có diện tích quá lớn, nhằm tránh xảy ra hiện tượng “khách đoạt chủ”. Khi chọn hoa văn trang trí cho thảm trải nhà, tốt nhất nên chọn những loại hoa văn mang ý nghĩa cát tường, vui vẻ.
Ngoài những điểm lưu ý trên, màu sắc của thảm cũng có quan hệ với phương vị của phòng khách trong ngôi nhà.
Nếu phòng khách nằm ở hướng Nam ngôi nhà, vì hướng Nam ngũ hành thuộc Hỏa, sẽ thích ứng với thảm trải màu đỏ, có hoa văn là những đường thẳng hoặc hình ngôi sao, sẽ đem lại hiệu quả phong thủy danh lợi song toàn.
Nếu phòng khách nằm ở hướng Đông hoặc Đông Nam ngôi nhà, vì hai phương vị này đều có ngũ hành thuộc Mộc, thích hợp với thảm trải màu xanh lục có hoa văn hình gợn sóng hoặc đường thẳng, có tác dụng tăng cường vượng khí cho vận thế.
Phòng khách nằm ở phương vị Tây hoặc Tây Nam trong ngôi nhà nên dùng thảm có màu trắng, màu bạc hoặc màu vàng kim, có hoa văn trang trí hình ô vuông hoặc hình chữ nhật, sẽ tăng cường sự trợ lực của quý nhân cho gia chủ.
Phòng khách nằm ở phương vị Tây Nam, hoặc Đông Bắc, phương vị này đều thuộc Thổ, thích hợp với thảm trải màu văn có hoa văn hình ngôi sao, sẽ giúp cho tình cảm vợ chồng trong gia đình thêm gắn bó, sự nghiệp hanh thông.
Phòng khách nằm ở hướng Bắc ngôi nhà thích hợp với thảm trài có hoa văn hình gợn sóng, sẽ thúc đẩy sự nghiệp của gia chủ ngày càng hưng vượng.
Tranh ảnh là một vật trang trí không thể thiếu trong phòng khách. Nhiều người treo những bức tranh mình yêu thích lên tường nhà tại phòng khách. Tuy nhiên, việc treo tranh không thể thực hiện một cách tùy tiện. Tranh treo tường tại phòng khách phải vừa bảo đảm về mặt thẩm mỹ, nghệ thuật lại vừa đạt những quy chuẩn về phong thủy.
Những bức tranh treo trong phòng khách đều phải mang ngụ ý cát tường, tốt đẹp và may mắn. Những bức tranh cát tường thường gặp nhất là tranh cá chép, tranh ba con de, tranh tuấn mã, … Ngoài ra, những bức tranh vẽ cảnh núi non, cảnh thiên nhiên, bình minh, hoa mẫu đơn… cũng là những lựa chọn được nhiều người ưa thích. Những bức tranh thư pháp, với giá trị đề cao đạo lý, được nhiều người sử dụng.
Những bức tranh được trang trí trong phòng khách nên phù hợp với địa vị, nghề nghiệp của chủ nhân, mang lại tính chất tương ứng, tương thích, phù hợp.

Tranh cá chép, thường được treo trong phòng khách
Bàn ghế là một món đồ dùng không thể thiếu trong phòng khách của mỗi gia đình. Vì vậy, cần bài trí như thế nào trong căn phòng để đạt được một trường khí có tác dụng tăng cường vượng khí.
Điều đầu tiên, việc lựa chọn số lượng bàn ghế cũng rất được quan tâm. Các bộ ghế sô pha hiện nay có rất nhiều hình dạng khác nhau như loại ghế dành cho một người ngồi, loại ghế hai chỗ, ba chỗ, ghế dạng dài, ghế dạng tròn… Nhìn chung, ghế sô pha trong phòng khách thường đi liền thành bộ. Tối kỵ chỉ kê nửa bộ bàn ghế. Việc sử dụng kết hợp giữa hai nhóm ghế sô pha dạng tròn và dạng dài chính là sự kết hợp mang lại hiệu quả tốt nhất.
Thứ hai, bộ ghế sô pha nên được kê ở phương vị cát lợi trong phòng khách. Bộ ghế sô pha là món đồ gia dụng giúp mọi thành viên trong gia đình cùng ngồi quây quần bên nhau hàng ngày. Thế nên, nếu kê bộ ghế này ở phương vị cát lợi, mọi người sẽ được hưởng vượng khí do phương vị này mang lại. Ngược lại, nếu bộ ghế sô pha được kê vào đúng phương vị không phù hợp, sẽ khiến cho mọi thành viên trong gia đình gặp tai ương.

Bàn ghế được kê ở phương vị cát lợi trong phòng khách
Nhìn chung, nếu ngôi nhà của bạn thuộc Đông tứ trạch, bộ ghế sô pha nên kê ở bốn phương vị cát lợi trong phòng khách đó là hướng chính Đông, Đông Nam, Nam, Bắc. Nếu căn nhà của bạn thuộc Tây tứ trạch thì bộ bàn ghế nên kê ở các phương vị Tây tứ như Tây, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam.
Đồng hồ là một vật dụng đơn giản nhưng khi treo đồng hồ cũng cần lưu ý đặc điểm như sau: Nên treo hoặc đặt ở những phương vị tạo nên mối quan hệ tương hợp với con giáp của chủ nhà.

Treo đồng hồ ở phương vị có con giáp tương hợp với con giáp năm sinh chủ nhân
Nếu chủ nhà tuổi Tý: Nên treo đồng hồ tại phương vị Đông Bắc hoặc Tây Nam, Đông Nam vì phương vị Đông Bắc có chi Sửu nhị hợp với chi Tý, phương vị Tây Nam, Đông Nam có các chi Thân và Thìn, tạo nên thế tam hợp Thân – Tý – Thìn.
Chủ nhà tuổi Sửu nên treo đồng hồ tại phương vị chính Bắc vì Tý và Sửu nhị hợp, hoặc có thể treo ở phương vị chính Tây, hoặc Đông Nam vì đó là vị trí của chi Dậu và chi Tị.
Chủ nhà Dần, nên để đồng hồ tại các phương vị Tây Bắc, Chính Nam.
Chủ nhà tuổi Mão nên treo ở các phương vị Tây Bắc, Tây Nam.
Nếu chủ nhà tuổi Thìn, nên treo đồng hồ tại trung tâm bức chính Tây, Chính Bắc hoặc Tây Nam.
Chủ nhà tuổi Tị nên treo đồng hồ tại các phương Tây Nam, Tây, và Đông Bắc.
Chủ nhà tuổi Ngọ nên treo ở các phương vị Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nam.
Chủ nhà tuổi Mùi nên treo tại Chính Nam, Tây Bắc và Đông.
Chủ nhà tuổi Thân nên treo tại chính Bắc, Đông Nam.
Chủ nhà tuổi Dậu nên treo tại các phương Đông Nam, Đông Bắc.
Chủ nhà tuổi Tuất, nên treo đồng hồ tại hướng Đông, chính Nam, Đông Bắc.
Chủ nhà tuổi Hợi, nên treo đồng hồ tại các hướng Đông, Đông Bắc, Tây Nam.
Gương là một vật phẩm phong thủy vô cùng quan trọng. Vì gương có khả năng phản xạ nếu được treo ở phương vị phù hợp sẽ tạo nên hiệu ứng phong thủy to lớn, ngược lại, nếu treo ở phương vị không phù hợp sẽ mang tới những ảnh hưởng bất lợi đối với vận thế của gia đình.
Nhìn chung, khi treo gương trong phòng khách, bạn nên lựa chọn những vị trí có cảnh tượng vui vẻ và dễ chịu. Nhu vậy sẽ khiến không gian phòng khách có vẻ sáng sủa, rộng rãi hơn, mà còn rất hiệu quả trong việc phóng đại nguồn năng lượng của phòng khách lên rất nhiều lần. Điều này rất phù hợp với nguyên tắc trong phong thủy học.
Phía sau bộ ghế sô pha là vị trí không nên soi gương. Một người ngồi trên bộ ghế này, người bên kia có thể nhìn thấy rõ ràng phía sau của người đó qua tấm gương vì vậy khiến chủ nhân của ngôi nhà mất tinh thần, bất an. Nếu treo gương ở bên cạnh chứ không phải ở đằng sau ghế sô pha, phần đầu của người đó không bị phản chiếu qua gương, nên sẽ không gây ảnh hưởng gì đáng ngại.
Tài vị trong phòng khách, tuyệt đối không được treo gương. Nếu treo gương tại vị trí này, tài thần sẽ bay đi mất. Nhìn chung, tài vị trong phòng khách chính là vị trí đối diện chéo góc với cửa chính. Ngoài ra, cũng không nên gắn gương lên trần nhà phòng khách vì như vậy sẽ khiến tinh, thần, khí của những người ngồi trong căn phòng này bị tiêu hao.
Bức tường treo ti vi chính là một trong những vị trí cần phải trang trí trong phòng khách. Đương nhiên bức tường này cũng là một nhân tố quan trọng đối với quy hoạch phong thủy của phòng khách. Sở dĩ có thể nói vậy vì nó liên quan mật thiết đến vận sự nghiện và tài sản của chủ nhân ngôi nhà. Vậy nên khi thiết kế chỗ đặt ti vi cũng nên chú ý tới góc độ phong thủy.
Trước tiên, bức tường treo ti vi tuyệt đối không được đặt ở phương vị tài vị của phòng khách. Tài vị cần được bảo đảm sự yên tĩnh và sạch sẽ tuyệt đối, mà ti vi thì ồn ào, huyên náo và biến động luôn luôn. Vì vậy nếu đặt hoặc treo ti vi ở phương vị tài vị sẽ ảnh hưởng xấu tới tài vận.
Thứ hai, màu sắc của bức tường treo ti vi nên hài hòa với màu sắc tổng thể của cả phòng khách. Nếu màu sắc của hai yếu tố này không có sự hài hòa, không những gây ảnh hưởng sẽ gây ảnh hưởng đến thị giác, mà tâm trạng con người cũng trở nên bấn loạn, không tốt đẹp. Ngoài ra, màu sắc của ti vi cũng có quan hệ mật thiết với thời điểm sinh của chủ nhân ngôi nhà. Nhìn chung, người sinh vào mùa xuân và mùa hạ nên lựa chọn màu trắng hoặc màu xanh nhạt. Những người sinh vào mùa thi hoặc mùa đông, nên chọn những màu vàng, đỏ hoặc tươi sáng.
Tám phương vị của phòng khách lần lượt là các hướng Đông, Nam, Bắc, Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam. Trong đó mỗi phương vị đều đại diện cho một vận thế khác nhau của người trong gia đình. Vì vậy, nếu có thể bố trí hợp lý cho cả tám hướng của gian phòng này sẽ thúc đẩy vận thế tương ứng của phương vị đó.
Hướng Đông trong phòng khách đại diện cho sức khỏe, thuộc tính ngũ hành là Mộc. Vì vậy, nên đặt nhiều cây cảnh xanh tốt ở khi vực này, sẽ rất có lợi cho sức khỏe của những người trong gia đình.
Hướng Tây đại diện cho vận con cháu, thuộc tính ngũ hành là Kim, vì vậy nên đặt một dàn âm thanh, ti vi, những đồ vật thuộc kim loại ở phương vị này, vận con cháu sẽ rất hưng vượng.
Hướng Nam trong phòng khách đại diện cho danh tiếng, ngũ hành thuộc Hỏa. Vì vậy nếu đặt một số món đồ trang trí có màu đỏ tại phương vị này, sẽ giúp mọi người trong gia đình có danh tiếng tốt. Ngoài ra phương vị này cũng rất thích hợp để treo tranh vẽ phượng hoàng, chim hồng hạc hoặc tranh vẽ cảnh bình minh lên.
Hướng Bắc phòng khách đại diện cho vận sự nghiệp, thuộc tính ngũ hành là Thủy. Vì vậy, nếu đặt tại phương vị này những đồ trang trí thuộc hành Thủy, có màu xanh lam hoặc màu đen, sẽ giúp cho vận sự nghiệp của chủ nhân có những bước phát triển vượt bậc. Những món đồ này có thể bày tại đây hoặc đăt một bể cá ở phwuowng vị này, treo tranh về sơn thủy cũng sẽ tốt.
Hướng Tây Bắc đại diện cho vận quý nhân, thuộc tinh là Kim, phương vị này rất phù hợp để bày những món đồ trang trí có thuộc tính ngũ hành là Kim và có màu trắng hoặc màu bạc, cũng có thể đặt tại đây những đồ vật bằng kim loại, hoặc chiếc đèn có đế làm bằng kim loại.
Hướng Đông Bắc đại diện cho vận văn xương, thuộc tính ngũ hành là Thổ. Vì vậy, nên đặt ở phương vị này những món đồ trang trí có màu đất nung hoặc bình gốm sứ sẽ có lợi cho sự tiến bộ trong học tập.
Hương Tây Nam đại diện cho vận đào hoa, thuộc tính là Thổ vì thế có thể đặt ở phương vị này một chiếc đèn hoặc pha lê, thạch anh thiên nhiên sẽ tăng cường vận đào hoa, và khiến quan hệ vợ chồng thêm nồng thắm.
Hướng Đông Nam đại diện cho tài vận, ngũ hành thuộc Mộc.Vì vậy có thể đặt những vật trang trí có ngũ hành thuộc Mộc, có màu xanh lục hoặc đặt những chậu cảnh, có phiến lá rộng để tăng cường tài vận.
Phòng khách là nơi tất cả mọi người trong gia đình, sum vầy, quây quần. Đây cũng là nơi tiếp đón khách khứa. Vì vậy nếu chủ nhân ngôi nhà biết lợi dung những món đồ trang trí để tạo nên bầu không khí ấm cúng và hài hòa cho không gian này, chắc chắn sẽ là một phương pháp tuyệt diệu trong phong thủy.
Hình tròn là một dạng hình lý tưởng cho đồ vật trong phòng khách, vì dưới góc độ âm dương hình tròn thuộc tính động, phù hợp với nơi sinh hoạt, quây quần, sum vầy, náo nhiệt của cả gia đình và khách khứa. Thứ nữa dưới góc độ ngũ hành hình tròn thuộc Kim chỉ tài phú, tiền bạc. Việc sử dụng những đồ vật như đèn hình tròn, trần có dạng tròn sẽ tăng thêm phần cát lợi.
Rất nhiều người vì muốn thể hiện địa vị và sự giàu có của mình nên đã bày trong phòng khách quá nhiều đồ đạc trang trí rực rỡ, bắt mắt, và rất tự hào với cách trang trí ấy. Tuy nhiên, bày quá nhiều đồ đạc trong phòng khách cơ bản của phong thủy.
Phong thủy cho rằng phòng khách được bài trí ngăn nắp, gọn gàng mới có thể tăng cường vượng khí. Nếu bày quá nhiều đồ đạc trong phong khách, sẽ khiến nó trở nên phức tạp và lộn xộn. Trong phong thủy, mỗi món đồ đều có thuộc tính và từ trường riêng. Nếu đặc quá nhiều đồ dùng khác nhau trong cùng một không gian, sẽ gây cản trở sự lưu thông khí. Sự hỗn loạn của các đường lực từ cũng không lợi cho việc hình thành một trường khí tốt đẹp cho phòng khách.
Từ đó có thể suy luận rằng không nên bày biện nhiều đồ đạc lộn xộn, hỗn tạp trong phòng khách, tốt nhất hãy bỏ bớt những thứ đồ không quan trọng để tránh phá hỏng trường khí phong thủy tốt đẹp trong phòng khách.
Theo truyền thống xưa, lễ Tạ năm mới được tiến hành khi kết thúc Tết, còn gọi là lễ Hoá Vàng được tiến hành vào ngày mồng ba Tết hoặc ngày khai hạ mồng bảy Tết.

Sắm lễ tạ năm mới
Lễ vật dâng cúng trong lễ tạ năm mới gồm:
Hương, hoa, nước, quả (ngũ quả).
Trầu cau;
Rượu;
Đèn, nến;
Lễ ngột, bánh kẹo;
Mâm cỗ mặn: xôi, gà, bánh chưng, các món Tết đầy đủ, tinh khiết.
Văn khấn tạ năm mới
Nam Mô A Di Đà Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật!
Nam Mô A Di Đà Phật!
Kính lạy:
– Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn Thần.
– Ngài Đương niên, Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng, các Ngài Thổ Địa, Táo Quân, Long Mạch Tôn Thần
– Các Tổ Khảo, Tổ Tỷ, nội ngoại tiên linh.
Hôm nay là ngày mồng Ba tháng Giêng năm…….
Tín chủ chúng con ……………………..
Ngụ tại ……………………………………
Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, phù tửu lễ nghi, cúng dâng trước án. Kính cẩn thưa trình: Tiệc xuân đã mãn, Nguyên Đán đã qua, nay xin thiêu hoá kim ngân, lễ tạ Tôn Thần, rước tiễn tiên linh trở về Âm giới.
Kính xin: lưu phúc lưu ân, phù hộ độ trì, dương cơ âm mộ, mọi chỗ tốt lành. Cháu con được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng. Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tiến dâng, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!
Nam mô a di Đà Phật!