Mơ thấy nước hoa: Có tin vui –
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Phương pháp tính toán nam mệnh và nữ mệnh có sự khác nhau, hiện nay theo thứ tự người ta liệt kê ra 100 năm của thế kỷ 20 , trong đó có quẻ nam, nữ mệnh của một năm phụ thuộc.

Năm 1901 – Tân Sửu, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1902 – Nhâm Dần, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1903 – Quý Mão, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1904 – Giáp Thìn, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1905 – Ất Tị, nam thuộc khôn thổ, nừ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1906 – Bính Ngọ, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1907 – Đinh Mùi, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chân mộc.
Năm 1908 – Mậu Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1909 – Kỷ Dậu, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1910 – Canh Tuất, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1911 – Tân Hợi, nam thuộc cân thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1912 – Nhâm Tý, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1913 – Quý Sửu, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1914 – Giáp Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1915 – Ất Mão, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1916 – Bính Thìn, nam thuộc chân mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1917 – Đinh Tỵ, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1918 – Mậu Ngọ, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1919 – Kỷ Mùi, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1920 – Canh thân, Nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1921 – Tân Dậu, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1922 – Nhâm Tuất, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1923 – Quý Hợi, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1924 – Giáp Tý, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1925 – Ất Sửu, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1926 – Bính Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1927 – Đinh Mão, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1928 – Mậu Thìn, nam thuộc ly hoá, nữ thuộc càn kim.
Năm 1929 – Kỷ Tỵ, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1930 – Canh Ngọ, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc chân thổ.
Năm 1931 – Tân Mùi, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1932 – Nhâm Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1933 – Quý Dậu, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thố.
Năm 1934 – Giáp Tuất, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1935 – Ất Hợi, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1936 – Bính Tý, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cân thổ.
Năm 1937 – Đinh Sửu, nam thuộc ly hoá, nữ thuộc càn kim.
Năm 1938 – Mậu Dần, nam thuộc cân thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1939 – Kỷ Mão, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1940 – Canh Thìn, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1941 – Tân Tỵ, nam thuộc khôn thố, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1942 – Nhâm Ngọ, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1943 – Quý Mùi, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1944 – Giáp Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1945 – Ất Dậu, nam thuộc khẩm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1946 – Bính Tuất, nam thuộc ly hoá, nữ thuộc càn kim.
Năm 1947 – Đinh Hợi, nam thuộc cấn thố, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1948 – Mậu Tý, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1949 – Ký Sửu, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1950 – Canh Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1951 – Tân Mão, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1952 – Nhâm Thìn, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1953 – Quý Tỵ, nam thuộc khôn thố, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1954 – Giáp Ngọ, nam thuộc khảm thủy, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1955 – Ất Mùi, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1956 – Bính Thân, nam thuộc cấn thố, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1957 – Đinh Dậu, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1958 – Mậu Tuất, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1959 – Kỷ Hợi, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm mộc.
Năm I960 – Canh Tý, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1961 – Tân Sửu, nam thuộc chân mộc, nữ thuộc chân mộc.
Năm 1962 – Nhâm Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1963 – Quý Mão, nam thuộc khám mộc, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1964 – Giáp Thìn, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1965 – Ất Tỵ, nam thuộc câri thố, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1966 – Bính Ngọ, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1967 – Đinh Mùi, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1968 – Mậu Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1969 – Kỷ Dậu, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1970 – Canh Tuất, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chân mộc.
Năm 1971 – Tân Hợi, nam thuộc khôn thố, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1972 – Nhâm Tý, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cân thổ.
Năm 1973 – Quý Sửu, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1974 – Giáp Dần, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1975 – Ất Mão, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1976 – Bính Thìn, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1977 – Đinh Tỵ, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khám thuý.
Năm 1978 – Mậu Ngọ, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thố.
Năm 1979 – Kỷ Mùi, nam thuộc chân mộc, nữ thuộc chân mộc.
Năm 1980 – Canh Thân, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1981 – Tân Dậu, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thố.
Năm 1982 – Nhâm Tuất, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1983 – Quý Hợi, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1984 – Giáp Tý, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1985 – Ất Sửu, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1986 – Bính Dần, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc càn thuý.
Năm 1987 – Đinh Mão, nam thuộc tôn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1988 – Mậu Thìn, nam thuộc chân mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1989 – Kỷ Tỵ, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1990 – Canh Ngọ, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1991 – Tân Mùi, nam thuộc ly hoả, nữ thuộc càn kim.
Năm 1992 – Nhâm Thân, nam thuộc cấn thổ, nữ thuộc đoài kim.
Năm 1993 – Quý Dậu, nam thuộc đoài kim, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 1994 – Giáp Tuất, nam thuộc càn kim, nữ thuộc ly hoả.
Năm 1995 – Ất Hợi, nam thuộc khôn thổ, nữ thuộc khảm thuỷ.
Năm 1996 – Bính Tý, nam thuộc tốn mộc, nữ thuộc khôn thổ.
Năm 1997 – Đinh Sửu, nam thuộc chấn mộc, nữ thuộc chấn mộc.
Năm 1998 – Mậu Dần, nam thuộc khôn thố, nữ thuộc tốn mộc.
Năm 1999 – Kỷ Mão, nam thuộc khảm thuỷ, nữ thuộc cấn thổ.
Năm 2000 – Canh Thìn, Nam thuộc ly hoá, nữ thuộc càn kim.
![]() |
![]() |
– Phía sau có chỗ dựa, thăng quan tiến chức thuận lợi. Nguyên tắc hàng đầu khi đặt bàn làm việc là phía sau phải có chỗ dựa. Nếu phía sau là hành lang hay lối đi thì công việc sẽ không được suôn sẻ, tinh thần không được yên tĩnh. Vì thế, phía sau nên có tường, hoặc bàn, tủ.

– Phía trước rộng rãi, tiền đồ rộng mở. Mặt trước bàn làm việc phải rộng rãi, thông thoáng. Nếu đối diện với tường thì tiền đồ sẽ như bị bức tường cản trở, vận mệnh vì thế cũng khó mà phát triển.
– Bên cạnh bàn làm việc không có lối đi, con đưòng thăng tiến cũng sẽ không bị cản trở. Phía trước mặt và bên cạnh bàn làm việc không được có lối đi, nếu không sẽ ảnh hưởng không tốt đến con đường tiến thân.
– Phía trước không được có cột, nếu không khi làm việc sẽ dễ xảy ra sai sót. Phía trước mặt có một cây cột chẳng khác nào bị đánh vào đầu, chắc chắn sẽ phạm phải sai lầm trong sự nghiệp, và dễ bị các bệnh về đầu.
– Quá gần cửa. Nếu chỗ ngồi ở quá gần cửa ra vào thì hiệu suất làm việc sẽ không cao. Chức vụ càng cao, vị trí ngồi càng phải tránh xa cửa ra vào.
– Bàn làm việc hướng thẳng ra cửa hoặc đường, nên đặt một bức bình phong. Nếu bàn làm việc hướng thẳng ra cửa hoặc ngoài đường thì sức khỏe con người sẽ bị ảnh hưởng, dễ gặp phải tai nạn bất ngò, gây trở ngại đến công việc và sự thăng tiến. Khắc phục bằng cách, đặt trước bàn làm việc một bức bình phong.
– Xà nhà ngay trên đỉnh đầu. Nếu bàn làm việc nằm ngay phía dưới xà nhà, cần đặc biệt chú ý. Tinh thần sẽ không được ổn định, chóng mặt, dễ mắc sai lầm. Nên kê bàn dịch lên phía trước.
– Vị trí lí tưởng của bàn làm việc. Cách bố trí bàn làm việc lí tưởng nhất là: Phía sau bàn làm việc phải có tường, bên trái là cửa sổ, bên ngoài cửa sổ là một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, sống động. Với cách bài trí như thế, sẽ tạo nên một môi trường làm việc lí tưởng có cảnh đẹp, có đủ ánh sáng, và rất thoáng khí. Làm việc trong một môi trường như vậy sẽ phản ứng rất nhanh nhạy, tinh thần làm việc hăng say, hiệu quả làm việc cao. Nếu cửa phòng nằm ở phía trước bên phải bàn làm việc thì có thể tránh được tạp âm bên ngoài và không bị làm phiền bởi ánh mắt tò mò của người khác. Nếu cửa phòng làm việc nằm ở góc trên bên trái thì có thể điều chỉnh lại vị trí bàn làm việc, hiệu quả đạt được cũng sẽ tương tự.
– Bố trí bàn làm việc:
+ Để đồ ở bên trái, hưởng mức lương cao. Bạn không thể không biết rằng hướng tay phải là vị trí may mắn của mỗi ngưòi. Nếu để các đồ phế tạp ở hướng đó thì sẽ khó mà có được tiền ở trong tay.
+ Quạt thổi mạnh, tiền lương hậu hĩnh. Không khí lưu thông thì lòng người cũng thấy dễ chịu. Trên bàn đặt một chiếc quạt nhỏ, có thể đẩy nhanh tốc độ lưu thông không khí xung quanh, lâu dần tinh thần làm việc hăng say hơn, cấp trên sẽ để ý và có thiện cảm ngay vói bạn.
+ Ánh đèn hắt lên trên, ngày phát lương sắp đến. Hãy mua một chiếc đèn nhỏ, ánh sáng của nó có thể hắt lên phía trên vị trí bạn ngồi. Trong giờ làm việc hãy bật nó lên, nguồn năng lượng lưu động với tốc độ nhanh phía trên đầu bạn có thể làm cho chỗ ngồi của bạn từ chỗ có người tụ tập cho đến chỗ có tiền tụ tập.
+ Những chiếc lá rộng, tiền mặt có thừa. Có thể đặt cạnh chỗ ngồi một chậu cây cảnh. Chọn loại cây có lá to và rộng, nó sẽ giúp cho tài vận của bạn leo cao.
+ Đá nằm bất động, lương lậu cũng im lìm. Nhiều người thích đặt trên bàn làm việc của mình những hòn đá nhỏ ngộ nghĩnh đáng yêu mà không biết rằng đá là thứ mang âm khí rất nặng. Vì thế, đặt nó trên bàn làm việc hay chính là kế sinh nhai của chúng ta thì quả là một cách làm không thông minh chút nào.
Đặt tên cho một hậu duệ vừa mang tính trách nhiệm của ông bà cha mẹ. Nó vừa là niềm vinh hạnh, niềm vui sướng… Nó chứa đựng những ước muốn thầm kín, những hy vọng ấp ủ vào hậu duệ của mình v.v…
Như vậy rõ ràng ai cũng muốn tìm một cái “tên đẹp”, “tên hay” để đặt cho hậu duệ. Người có chữ cũng như người không có kiến thức ngôn ngữ ai cũng cố tìm một cái tên mang ý nghĩa thực sự với họ.

– Ngày xưa, những bậc danh nho thường đặt tên cho con cháu hết sức cẩn thận. Họ nghiên cứu, phân tích họ và tên liên quan tới “lý”, “khí” thế nào (có thuận nghĩa, hợp đạo hay không). Họ nghiên cứu quan hệ ngũ hành tương sinh, tương khắc ra sao giữa tên và họ, đệm họ. Họ nghiên cứu ý nghĩa của chữ (thường theo nghĩa chữ Hán vì các nhà nho rất giỏi chữ Hán). Họ đối chiếu với “tứ trụ” giờ, ngày, tháng, năm sinh để đặt một cái tên hợp “lý”. Ngoài ra những người thông hiểu “tín danh dư đoạn”, họ còn tìm cho con cháu họ một cái tên cùng với tên họ mà có được “ba biểu thế” “Âm dương Ngũ Hành” thuộc loại “đại cát” (rất tốt) hay “cát” (tốt) và tránh xa sự phối hợp họ tên mà “hung hãm” (xấu, tồi).
Họ mong muốn với cái tên đẹp sẽ là biểu thị những đức tính tốt, nhân cách tốt (Tên ảnh hưởng lớn đến nhân tính).
Những người dân thường cũng cố đặt cho hậu duệ mình một cái tên hay. Họ không biết quá nhiều triết lý mà chỉ là ý thích
– Song trong thực tế ngày xưa những người hiếm muộn lại cố tình đặt một cái tên xấu xí. Bởi họ muốn con họ không bị thế lực huyền bí “bắt” đi…! Khi lớn lên đứa trẻ ấy lại phải xin đổi tên dễ nghe, hợp lý hơn.
Như vậy thì ai cũng muốn đặt một cái tên đẹp và ai cũng muốn có một cái tên hay. Vì tên “chính tắc” là dùng suốt đời nên cần thận trọng. Tên là một thứ quyền lực hợp pháp.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Quỳnh Mai (##)
Tính ngày xung tuổi trên cơ sở thuyết Ngũ Hành với hai quy luật tương sinh và tương khắc giữa can với can và chi với chi. Biết rằng Ngũ Hành gồm Kim – Thủy – Mộc – Hỏa – Thổ. Mỗi Thiên Can và Địa Chi đều thuộc về một Hành nào đó và chúng hoặc tương sinh là: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim… Hoặc theo quy luật tương khắc là: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

Ngoài quy luật tương sinh, tương khắc chung, các Địa chi còn phân ra sáu cặp Địa chi xung nhau rất mạnh. Đó là:
– Dần xung Thân và ngược lại – Thìn xung Tuất và ngược lại.
– Tị xung Hợi và ngược lại – Tý xung Ngọ và ngược lại.
– Mão xung Dậu và ngược lại – Sửu xung Mùi và ngược lại.
Nàng tuổi Sửu
![]() |
Phần lớn các nàng cầm tinh con trâu đều có tính cách hướng nội, trung thực và đảm đang. Hơn thế, họ còn sống rất lý trí và có lối tư duy thực tế. Họ rất ghét những lời nói hoa mỹ, bóng bẩy không có thật. Đặc biệt khi những lời nói có cánh ấy xuất phát từ miệng lưỡi của những anh chàng đào hoa hoặc “thùng rỗng kêu to”.
Nàng tuổi Tỵ
Những cô nàng tuổi này đều thông minh, lanh lợi và thích tạo cảm giác huyền bí cho mọi người xung quanh. Bên ngoài họ trầm lắng nhưng trong nội tâm lại nhạy cảm và khá đa nghi, đặc biệt về chuyện tình cảm. Do đó, những lời nói mật ngọt của các chàng chỉ như cơn gió thoảng qua với người tuổi Tỵ mà thôi.
![]() |
Nàng tuổi Tỵ rất khó để yêu một ai đó. Nếu đối phương không thể hiện sự chân thành hoặc có chút giả tạo nào đó, cô nàng này lập tức quay ngoắt 360 độ và chuyển hướng “tấn công ngầm” sang đối tượng mới.
Nàng tuổi Thân
Cô nàng tuổi Thân có tính cách phóng khoáng, hoạt ngôn và thích tham gia các hoạt động tập thể sôi nổi, nhưng trong chuyện tình cảm họ lại khá dè dặt và cẩn trọng. Với người tuổi Thân, yêu là phải mang lại cảm giác an toàn chứ không phải kiểu vu vơ tùy hứng, lúc nắng lúc mưa.
![]() |
Họ không ưa những anh chàng có vẻ ngoài hào nhoáng, mồm năm miệng mười nhưng lại không dám chịu trách nhiệm với những điều mình làm.
Mr.Bull (theo Dyxz)
Chùa Diệu Đế tọa lạc ở 100 đường Bạch Đằng, phường Phú Cát , thành phố Huế. Chùa là ngôi Quốc tự thứ ba ở Huế, được Vua Thiệu Trị liệt hạng là một trong 20 thắng cảnh của đất Thần Kinh. Sở dĩ chùa có tên là Diệu Đế là vì nhà Vua muốn vừa làm nơi bảo vệ cho kinh thành vùa trấn tĩnh những người lầm đường lạc lối trở về với điều thiện.
Chùa Diệu Đế là một trong những cơ sở Đông Y khám và điều trị bệnh miễn phí có uy tín, góp phần không nhỏ trong chăm sóc và phát triển sức khỏe của cộng đồng không chỉ tại thành phố Huế mà còn ở nhiều địa phương khác trong và ngoài tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chùa do Vua Thiệu Trị cho xây dựng vào năm 1844 với qui mô đồ sộ trên nền phủ đệ cũ của nhà vua, nhưng qua nhiều cuộc chiến tranh đã hư hỏng. Năm 1889, Hòa thượng Tâm Truyền được Vua Thành Thái ban tiền để trùng tu. Chùa lại bị hỏng do cơn bão năm 1904.
Khuôn viên chùa nằm gọn giữa bốn con đường: phía trước là đường Bạch Ðằng chạy dọc theo một nhánh sông Hương, phía sau là đường Tô Hiến Thành gần chùa Diệu Hỷ, bên trái là con đường mang tên chùa Diệu Đế và bên phải là đường chùa Ông.
Ban đầu, kiến trúc chùa rất qui mô. Tuy không đẹp bằng chùa Thiên Mụ, nhưng chùa Diệu Ðế có vẻ độc đáo riêng, có bốn lầu (hai lầu chuông, một lầu trống và một lầu bia). Kiến trúc chùa hiện nay được xây dựng vào năm 1953, ở trần chánh điện có bức tranh vẽ “Long Vân khế hội”, nét vẽ điêu luyện.
Chính điện là đại giác, tả hữu chính điện là Thiền Đường, phía trước điện dựng gác Ðạo Nguyên hai tầng ba gian, sau gác Ðạo Nguyên có hai lầu chuông trống xây cân đối ở hai bên, chính giữa là lầu Hộ Pháp, sân trong có La Thành, sân trước có hai nhà lục giác, nhà bên tả đặt hồng chung, nhà bên hữu dựng bia lớn khắc bài văn do vua Thiệu Trị soạn.
Chùa Diệu Ðế có nhiều tượng Phật do được chuyển từ chùa Giác Hoàng, sau sự kiện Kinh đô thất thủ (1885). Cuối năm này, chính phủ Nam Triều đặt sở Đúc Tiền ở Cát Tường Từ Thất, phủ đường Thừa Thiên ở Trí Tuệ Tịnh Xá và một tăng phòng làm nhà lao của tỉnh, một tăng phòng làm trụ sở cho Khâm Thiên Giám. Năm 1887 phần lớn các ngôi nhà trong chùa đều bị triệt hạ…về sau, ngoài cổng La Thành xây thêm bốn trụ biểu.
Trong chùa chính giữa còn có các tượng Tam Thế với sắc vàng cháy của nước vàng thếp ngày xưa còn lại. Và có một pho tượng của ngài A-Nan, một tượng của ngài Ca-Diếp, và đặc biệt là pho tượng Chuẩn Đề có nhiều tay rất mỹ thuật. Phía trái có 3 tượng Phật, 3 tượng Thánh, phía phải còn có 5 tượng Phật, tượng Đức Di-Lặc thờ ở giữa. Sát vách bên trái còn có khám thờ vua Thiệu Trị và một vài công chúa, hoàng tử con vua, phía phải còn có khám thờ chư linh.
Sau Đại Giác Điện, hai bên tả hữu rất cân đối, có hai nhà Tăng Xá, rồi hai trù gia tức là hai nhà bếp. Cạnh hai trù gia xích vào trong có hai cái giếng. Có lẽ là cái giếng phía trái, nước rất trong mà chùa Diệu Đế đang dùng hiện nay là một trong hai cái giếng ngày xưa còn lại.Tất cả các lối đi từ sở này sang sở khác đều được lát bằng gạch Bát Tràng…
Sự hoành tráng của một ngôi quốc tự đã đi qua nhưng không gian và cảnh vật cũng như sự linh thiêng của Diệu Đế vẫn còn đó. Hình tướng bát bộ kim cang ở hai Lôi gia có thể làm cho những ai “yếu vía” cảm thấy sợ.
, vẫn là nơi lui tới cho những người con Phật. Ngày nay chùa đang được trùng tu tuy chưa lấy lại được vẻ huy hoàng xưa nhưng cũng xứng đáng là một nơi để tham quan vãng cảnh.
Trong phần này các bạn tham khảo tuổi để kết hôn theo Thập nhị Địa chi: Tam hợp, Tứ hành xung, Tứ tuyệt, Lục hợp, Lục xung, Lục hại, kết hợp với Thập Thiên can hợp khắc và Ngũ hành nạp âm sinh khắc.

Thập nhị Địa chi: Tam hợp (Tốt)
Thân-Tý-Thìn
Dần-Ngọ-Tuất
Tỵ-Sửu-Dậu
Hợi-Mão-Mùi
Thập nhị Địa chi: Lục hợp (Tốt)
Tý hợp Sửu
Dần hợp Hợi
Mão hợp Tuất
Thìn hợp Dậu
Tỵ hợp Thân
Ngọ hợp Mùi
Thập nhị Địa chi: Lục xung (Xấu)
Tý xung Ngọ
Sửu xung Mùi
Dần xung Thân
Mão xung Dậu
Thìn xung Tuất
Tỵ xung Hợi
Thập nhị Địa chi: Tứ hànhxung (Xấu)
Thìn-Tuất-Sửu-Mùi
Tý-Ngọ-Mão-Dậu
Dần-Thân-Tỵ-Hợi
-Tránh xung (Xấu) :
Tý xung Mão
Ngọ xung Dậu
Dần xung Tỵ
Thân xung Hợi
Thìn xung Mùi
Tuất xung Sửu
- Tránh kỵ (Xấu):
Tý kỵ Ngọ
Mão kỵ Dậu
Dần kỵ Thân
Tỵ kỵ Hợi
Thìn kỵ Tuất
Sửu kỵ Mùi
-Tránh tứ tuyệt (Xấu)
Tuổi TÝ tuyệt tuổi TỴ
Tuổi DẬU tuyệt tuổi DẦN
Tuổi NGỌ tuyệt tuổi HỢI
Tuổi MÃO tuyệt tuổi THÂN
-Tránh lục hại (Xấu) :
TÝ hại MÙI
DẦN hại TỴ
THÂN hại HỢI
SỬU hại NGỌ
MÃO hại THÌN
DẬU hại TUẤT.
Thiên Can hợp khắc (Hợp: Tốt, Khắc: Xấu) :
GIÁP hợp KỶ, khắc CANH
ẤT hợp CANH, khắc TÂN
BÍNH hợp TÂN, khắc NHÂM
ĐINH hợp NHÂM, khắc QUÝ
MẬU hợp QUÝ, khắc GIÁP
KỶ hợp GIÁP, khắc ẤT
CANH hợp ẤT, khắc BÍNH
TÂN hợp BÍNH, khắc ĐINH
NHÂM hợp ĐINH, khắc MẬU
QUÝ hợp MẬU, khắc KỶ
Ngũ hành nạp âm (Bản mệnh) tương sinh (Tốt)
Thủy sinh Mộc
Mộc sinh Hỏa
Hỏa sinh Thổ
Thổ sinh Kim
Kim sinh Thủy
Ngũ hành nạp âm (Bản mệnh) tương khắc (Xấu)
Thủy khắc Hỏa
Hỏa khắc Kim
Kim khắc Mộc
Mộc khắc Thổ
Thổ khắc Thủy
Cửa trước, hoặc cửa chính có vai trò rất quan trọng trong phong thủy. Đó là nơi đón luồng năng lượng từ vũ trụ vào nhà. Do đó, cửa trước càng mạnh mẽ, càng cân đối thì chất lượng nguồn năng lượng càng tốt cho những người sống trong nhà. Vậy thế nào là một cánh cửa trước tốt nhất cho phong thủy? Dưới đây là 5 tính chất bạn có thể tham khảo để giúp gia tăng sức mạnh cho ngôi nhà của bạn.
Mở dòng chảy cho năng lượng Một dòng chảy năng lượng tràn trề không bị cản trở sẽ đi qua cửa chính để vào nhà của bạn. Điều này có nghĩa là không được phép đặt thùng rác, chậu cũ đã nứt vỡ, những cái cây đã chết hoặc bất kỳ vật nào có thể ngăn cản dòng chảy năng lượng phong thủy.
![]() |
| Ảnh minh họa |
![]() |
| Ảnh minh họa |
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thanh Vân (##)
| ► Tra cứu: Lịch vạn niên 2016 chuẩn xác nhất tại Lichngaytot.com |
![]() |
![]() |
| Máy tính là thiết bị sinh tài tốt nhất |
Đặc điểm về tóc của mỗi người thường chịu tính di truyền rất nhiều, thường màu tóc, chất tóc hay số lượng tóc của con cái khá giống với bố mẹ. Có thể nói rằng: Bộ tóc là bộ phận thể hiện cá tính con người rõ nhất. Ông cha ta cũng có câu: Cái răng cái tóc là góc con người. Tóc ở đây bao gồm những đặc điểm như: độ dày, mỏng, thô, mịn, cứng mền, màu sắc và độ xoăn của tóc.
Tuy tóc không định hình suốt đời như dấu vân tay, cũng có thể thay đổi nhiều qua việc nhuộm ép, … tác dụng của các hóa chất trong quá trình làm đẹp. Nhưng một số đặc trưng của tóc thì khó thay đổi và những điểm đặc biệt đó cũng chính là yếu tố quan trọng để phản ánh lại cá tính của con người.

Trung bình chung mỗi người có khoảng từ 10 -11 vạn sợi tóc. Bình quân 1 cm có khoảng 20 cây tóc trở lên thì được gọi là tóc dày. Những người tóc dày thường có đặc điểm sau:
+ Tính cách ôn hòa: Người tóc dày thường rất trọng nghĩa khí, ứng xử lễ độ, tính cách ôn hòa, nhã nhặn. Vì thế nên dễ được mọi người yêu quý, kính trọng.
+ Hồn nhiên chất phác: Đây là những người có tính cách khá cởi mở, hoạt bát, tích cực, hiếu động. Tuy bề ngoài họ cố tỏ ra mạnh mẽ nhưng tính tình lại khá mềm mỏng, yếu đuối và hồn nhiên, chân thật.
+ Có tài lãnh đạo: Nói luôn đi đôi với làm, có tài lãnh đạo. Tuy khéo léo ra lệnh những cũng rất đằm thắm, là nhóm người thiên về hiện thực.
+ Luôn nghiêm túc và cận thận: Đây là nhóm người hướng nội, một khi làm việc hay suy nghĩ họ đều rất cẩn thận nhưng cũng khá cố chấp. Tuy tính cách mạnh mẽ nhưng lại là người nghiêm túc, chặt chẽ.
Với những người tóc mỏng và thưa, họ thường có những tính cách như sau:
+ Tính hai mặt: Người có tóc mỏng thường không quen nói chuyện trước mặt với người khacsm hoặc không chủ động tiếp xúc, là một người hướng nội. Tuy nhiên, một khi họ bị áp bức hay dồn vào thế bí thì không ai cản nổi.
+ Thiếu dẻo dai, bền bỉ: Dù là trong việc học tập hay công việc thì họ là người thiếu sự bền bỉ, dẻo dai. Thường là kiểu người dễ thỏa mãn dừ chỉ là một chút thành tích nhỏ.
+ Là người nhạy cảm: Họ thường sống khá nội tâm nên rất nhạy cảm với những sự vật bên ngoài. Nói chung kiểu người này thường cầu an vô sự, ít khi tranh chấp.
Tóc cứng là loại tóc thẳng, sờ vào cứng, không mền mại. Với những người có chất tóc như thế nào thì có đặc điểm là:
+ Cá tính mạnh mẽ: Họ là người rất thoải mái, trái phải rõ ràng. Một khi họ đã thích thú với một việc gì thì rất nhiệt tình. Họ cũng là nhóm người có tính cố chấp, bảo thủ, tuy cần an vô sự nhưng trong nội tâm không thỏa hiệp, bằng mặt nhưng không bằng lòng. Đặc biệt khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn hay cùng cực thì tính cách đó càng nổi bật.
+ Là người ngay thẳng, không sợ gian khó: Họ phù hợp với những công việc tỉ mỉ, không sợ khó khăn, có thái độ trước sau như một. Thâm chí trong một số trường hợp quá bảo thủ, thiếu sự linh hoạt cần thiết.
+ Giàu lòng cảm thông: Là người nhiệt tình giúp đỡ người khác, giàu lòng nhân ái, thông cảm.
Là những sợi tóc to, thô cứng, đường kính trung bình mỗi sợi nằm vào khoảng 0,1 đến 0,15mm. Với tóc người bình thường vào khoảng 0,08 đến 0,09 mm. Những đặc điểm của người có sợi tóc thô:
+ Tính cách hào phóng: Họ là những người có lòng tự trọng cao, thường cảm thấy khó chịu khi nghe những lời nói thật của người khác. Trong gia đình thì những người có sợi tóc thô thường là những người khá gia trưởng.
+ Không sợ trắc trở: Người tóc thô thường làm việc nhanh chóng, khi gặp khó khăn cũng không nản chí.
+ Là người độc đoán chuyên quyền: Thường họ là những người tự cao tự đại, là cho những người xung quanh không ưa thích, quý mến.
Những người có tóc mịn, sợi tóc mảnh, hay còn gọi là tóc tơ. Đường kính sợi tóc chỉ khoảng 0,06 đến 0,07mm. Họ thường có những tính cách dưới đây:
+ Có ham muốn mạnh mẽ: Những người có tóc mảnh thường có tham vọng rất nhiều, họ luôn quan tâm tô vẽ cho mình những không muốn lộ mặt.
+ Có tính cách hướng nội: Thường xử lí vấn đề thiếu quyết đoán, không quen ra lệnh cho người khác.
+ Tính tính nhã nhặn, ôn hòa: Là người sống ôn hòa, giàu lòng thông cảm. Họ là tuýp người cahwm chỉ làm việc, luôn thành thực nên được mọi người yêu mếm, nhưng nhược điểm là người hay ảo tưởng và thích sự lãng mạn.
Thông thường đây là những người có tóc xoăn bẩm sinh. Phụ thuộc vào mức độ xoăn khác nhau mà biểu hiển của mỗi người một khác. Tuy nhiên, họ đều có những tính cách sau đây:
+ Tính tình bướng bỉnh: Dù trong công việc hay trong học tập hì những người này thường khó làm vui lòng người khác. Với người có tóc càng xoăn thì biểu hiện này lại càng rõ hơn.
+ Tính tự cao tự đại: Họ thích máy móc vào nhược điểm của người khác, lật đi lật lại thất thường, nhiều lúc việc bé cũng xé ra to, thổi phồng vấn đề.
+ Không hay lên mặt: Họ không thích xuất đầu lộ diện, nhưng lại nhiệt tình, sâu sắc với bạn tri âm.
+ Là người có tính quyết đoán: Những người này có tính cách khoáng đạt, có dũng khí, tinh thần dám nghĩ dám làm. Với nhiều việc mà mình tin tưởng thì quyết tâm thực hiện đến cùng, nhiều khi có biểu hiện của tính ham đấu đá.
+ Có tài lãnh đạo: Đây là tuýp người dễ thành đạt.
+Là người lúc nóng, lúc lạnh.
Thường những người tóc màu nâu đều khá mềm mịn, sợi tóc mảnh. Họ là những người có tính cách ôn hòa nên được nhiều người mến mộ, sống cần kiệm, thiếu tính quyết đoán.
![]() |
16/3/2016 - ngày Phật xuất gia, chúng sinh hành thiện tích đức![]() |
Đây là điển cố thứ Mười bảy trong quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát, mang tên Tào Quốc Cữu Vi Tiên (còn gọi là Tào Quốc Cữu Thành Tiên). Quẻ Quan Thế Âm Bồ Tát Tào Quốc Cữu Vi Tiên có bắt nguồn như sau:
Tào Quốc Cữu là một trong Bát tiên của Đạo giáo, tương truyền đó là vị Đại Quốc cữu của Tống Nhân Tông, tên là Dật, cũng gọi là cảnh Hưu.Thời vua Tống Nhân Tông, Tào hoàng hậu có hai người em trai, người em trai lớn chính là Tào Quốc Cữu, người em trai nhỏ tên là cảnh Thực. Lúc này có tú tài là Viên Văn Chính ở huyện Triều Dương, phủ Triều Châu, Quảng Đông, cùng vợ là Trương thị lên kinh dự thi. Nhị Quốc cữu Cảnh Thực say mê nhanh sắc của Trương thị, bèn mời vợ chòng Viên Sinh vào phủ, rồi giết chết Viên Sinh, chiếm đoạt người vợ.
Oan hồn của tú tài đến kêu với Bao Chửng, Bao Công bèn nhận lời tra xét. Tào Quốc Cữu báo cho em trai mình biết, dặn rằng nhất định phải giết chết vợ của tú tài để tránh tai họa về sau. Nhưng khi cảnh Thực đẩy vợ của người tú tài xuống giếng, cô ta đã trốn thoát. Vợ của tú tài gặp Tào Quốc Cữu, lại nhầm là Bao Chửng, bèn kêu oan với Tào Quốc Cữu. Tào Quốc Cữu hoảng hồn, liền sai thủ hạ dùng roi sắt đánh chết vợ của người tú tài. Thủ hạ cho rằng cô đã chết, bèn đem vứt xác ở trong một con ngõ nhỏ hẻo lánh.
Nhưng vợ người tú tài vẫn chưa chết, sau khi tỉnh lại, bèn tìm đến kêu oan với Bao Công, Bao Công sau khi hỏi rõ sự tình, liền giả ốm. Tào Quốc Cữu đến dò xát Bao Chửng. Bao Chửng lệnh cho vợ tú tài ra tố cáo, ròi đem Tào Quốc Cữu giam lại. Lại làm thư giả để lừa Nhị Quốc cữu cảnh Thực đến phủ Khai Phong, gọi người phụ nữ đó ra trình bày nỗi oan tình, rồi đem Nhị Quốc cữu giam vào trong lao. Tào hoàng hậu vậ Tống Nhân Tông hay tin, đích thân đến khuyên Bao Chửng hãy thả hai người em trai của hoàng hậu ra, nhưng Bao Chửng không nghe, ra lệnh đem Nhị Quốc cữu xử tội. Tống Nhân Tông phải ban lệnh đại xá thiên hạ, Bao Công mới thả Tào Quốc Cữu ra.
Tào Quốc Cữu sau khi được tha tội đã vào núi tu hành, từ đó ẩn mình nơi rừng núi, quyết tâm tu đạo học tiên. Một hôm, Chung Ly Quyền và Lã Động Tân hỏi Tào Quốc Cữu rằng: “Nhà ngươi đang tu dưỡng cái gì vậy?” Tào Quốc Cữu nói: “Tôi tu đạo”. Tiên nhân cười hỏi: “Đạo ở đâu?” Tào Quốc Cữu chỉ lên trời nói: “Đạo ở trên trời!” Tiên nhân lại hỏi: “Trời ở đâu?” Tào Quốc Cữu chỉ tay vào tim mình. Chung Ly Quyền và Lã Động Tân hài lòng nói: “Tâm tức là trời, trời tức là đạo. Ngươi đã thông hiểu được chân nghĩa của đạo rồi đấy!” Bèn truyền thụ cho “Hoàn chân bí chỉ”, ra lệnh cho ông hãy dốc lòng tu luyện. Chẳng bao lâu, Tào Quốc Cữu đã thành tiên.
Trong lịch sử có nhân vật Tào Quốc Cữu thực, tên là Tào Dật, tự là Công Bá, là cháu của Hàn Vương Tào Bân, em trai của Tào Hoàng hậu. Ông tính tình ôn hòa bình dị, thông hiếu âm luật, giỏi bắn cung, thích làm – thơ, làm quan đến chức Đồng Trung thư môn hạ Bình Chương sự, được phong tước Tế Dương Quận Vương, sử sách cũng khen ông là một người lão luyện ở chốn quan trường, bản thân trải qua mấy đời vua vẫn thuận buòm xuôi gió, sống thọ bảy mươi hai tuổi.
Trong hình tượng Bát tiên của Đạo giáo sau này, Tào Quốc Cữu thường mặc áo màu hồng, đầu đội chiếc mũ sa nhỏ, trên mặt đắp đậu phụ, tay cầm thẻ bài bằng ngọc, mang hình tượng một viên quan tri huyện hài hước. Khi xuất hiện cùng Bát tiên ăn mặc chỉnh tề, mọi người chỉ coi Tào Quốc Cữu là một anh hề gây cười, đến nỗi xuất thân cao quý và những hành vi không tốt được gán cho ông đã bị người đời lãng quên.
Hỏi: Phòng ngủ của tôi nằm ở hướng Bắc và tôi đang băn khoăn không biết trang trí căn phòng như thế nào mới hợp phong thủy. Theo hiểu biết của tôi, cần sử dụng những gam màu da và đất cho phòng ngủ để có phong thủy tốt, nhưng nguyên tố Đất (Thổ) lại không hợp với hướng Bắc. Vậy, tôi cần phải làm gì?
Trả lời:
Tôi hiểu sự băn khoăn của bạn và bạn đã đưa ra một câu hỏi phong thủy rất tốt.
Sau khi xác định rõ sơ đồ bát quát của ngôi nhà, bạn có thể thường xuyên cảm thấy mình rơi vào tình huống “tiến thoái lưỡng nan”, không biết phải trang trí một khu vực cụ thể trong nhà như thế nào cho đúng.
Để tạo ra một năng lượng hài hòa hơn trong nhà, bạn cần tăng cường các yếu tố phong thủy cần thiết trong khu vực bát quái cụ thể.
Ví dụ, bạn sẽ mang cây xanh - yếu tố Mộc và một tính năng nước - yếu tố Thủy đặt ở hướng Đông để tăng cường năng lượng cần thiết nhằm duy trì sức khỏe tốt và sự yên ấm cho gia đình.
Tuy nhiên, nếu phòng ngủ của bạn ở hướng Bắc, bạn có thể phải vận dụng những ý tưởng trang trí theo phong thủy có phần phức tạp và tinh tế hơn một chút. Phòng ngủ hướng Bắc luôn đặt ra nhiều thử thách và cần có những giới hạn cụ thể.
Sau đây là một số lời khuyên phong thủy dễ dàng và thực tế mà bạn có thể áp dụng khi trang trí phòng ngủ hướng Bắc:
1. Mang những bức tranh nghệ thuật đen - trắng vào phòng ngủ của bạn và trưng bày nó sao cho trực quan nhất, tạo được sự thoải mái khi ngắm nhìn. Hãy chắc chắn những hình ảnh này phù hợp với phòng ngủ.
- Lý do phong thủy: Đen là màu của yếu tố Thủy và trắng là màu của yếu tố Kim. Cả hai yếu tố và màu sắc này đều có khả năng “nuôi dưỡng" rất tốt cho khu vực hướng Bắc.
2. Sử dụng chủ yếu các màu sắc như màu trắng, kem, xám nhạt trong phong ngủ, kèm theo phụ kiện trang trí tạo điểm nhấn tinh tế và ấm áp đại diện cho ba yếu tố Thổ, Mộc và Hỏa. Ví dụ, bạn có thể sử dụng những chiếc gối ôm màu đỏ hoặc màu nâu sô-cô-la nhưng không được sơn tường bằng những màu sắc này. Bạn cần tránh thể hiện yếu tố Thổ, Hỏa và Mộc quá mạnh mẽ trong phòng ngủ hướng Bắc.
- Lý do phong thủy: Ba yếu tố phong thủy Thổ, Hỏa và Mộc sẽ làm yếu đi năng lượng của yếu tố Thủy rất cần thiết cho phòng ngủ hướng Bắc.
3. Đặt một chiếc gương thật đẹp để phản chiếu nhiều ánh sáng hơn cho phòng ngủ. Tránh đặt gương ở vị trí đối diện với giường ngủ và cửa ra vào. Ngoài ra, chiếc gương nên có hình tròn hoặc oval vì đây là hình dạng đặc trưng của yếu tố Kim - tốt cho hướng Bắc.
- Lý do phong thủy: Gương soi đặt ở vị trí tốt sẽ tăng cường các yếu tố Nước của hướng Bắc mà không làm thất thoát năng lượng tốt của phòng ngủ.
4. Tránh sử dụng quá nhiều các hình dạng sau đây trong phòng ngủ hướng Bắc, đó là hình vuông - đặc trưng của Đất, hình chữ nhật - đặc trưng của Gỗ hoặc hình tam giác - đặc trưng của Lửa. Điều này áp dụng cho đồ nội thất như giường ngủ và đầu giường, tủ đầu giường, tủ quần áo cũng như khăn trải giường…
- Lý do phong thủy: Như đã nói ở trên, màu sắc cũng như hình dạng của yếu tố Thổ, Hỏa và Mộc sẽ làm yếu năng lượng của yếu tố Thủy rất cần thiết cho phòng ngủ hướng Bắc.
Tìm hiểu kỹ hơn, bạn có thể tìm thấy rất nhiều giải pháp sáng tạo cho bất kỳ băn khoăn nào đang gặp phải. Chỉ cần bạn hiểu và nắm rõ sự tương tác của 5 yếu tố phong thủy chính. Trang bị kiến thức này chắc chắn sẽ giúp bạn mang những năng lượng tốt đẹp đến với không gian sống của mình.
thiên trù (Thổ)
***
1. Ý nghĩa tính tình:
2. Ý nghĩa tài lộc:
3. Ý nghĩa bệnh lý:
4. Ý nghĩa của thiên trù và một số sao khác:
- Thiên Trù, Hồng Loan: đầu bếp nổi tiếng nhờ tài nấu nướng hay người bào chế rượu ngon.
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Thiên Nga (##)
![]() |
![]() |
![]() |
| ► Xem bói 2016 để biết vận mệnh, công danh, tình duyên của bạn |
Người tuổi Thân nên hợp tác làm ăn với tuổi nào?
Tuổi Tý nên kết hợp làm ăn với tuổi nào?
Người tuổi Sửu nên hợp tác làm ăn với tuổi nào?
Nguồn: ST & Tổng hợp từ Internet: Trúc Loan (##)
Bếp là trái tim của ngôi nhà, và điều quan trọng là bạn cần giữ cho nó sạch sẽ. Một căn bếp khỏe mạnh sẽ giảm thiểu nguy ngơ lây lan mầm bệnh, khiến bạn không bực mình hay không kích thích bạn ăn quá nhiều.

1. Bọt biển bẩn
Những miếng giẻ rửa bát là nơi sản sinh ra vô số vi khuẩn, vi trùng gây bệnh. Chúng cần được vệ sinh hàng tuần và thay thế sau khoảng 6-8 tuần sử dụng. Để vệ sinh giẻ rửa bát, bạn có thể giặt sạch bằng nước rửa rồi phơi khô dưới nắng. Trước khi sử dụng lại, cho vào lò vi sóng trong 5 phút để tiêu diệt hết vi khuẩn còn sót lại.
2. Bình thủy tinh đựng bánh kẹo
Sự thật đáng buồn là nếu bạn suốt ngày nhìn chúng 'lóng lánh' trong những chiếc bình thủy tinh sáng choang thì khả năng bạn sẽ nhâm nhi chúng cả ngày rất nhiều. Để cất trữ bánh kẹo nên chọn một chiếc bình đục và chỉ bày một ít hay thì lấp đầy bằng món ăn yêu thích của bạn.

3. Túi vải bao bố
Những chiếc túi vải bao bố an toàn cho môi trường khi bạn có thể tái sử dụng nhiều lần. Nhưng đây lại là nguyên nhân khiến vi khuẩn từ thực phẩm lây nhiễm chéo cho nhau nếu bạn không vệ sinh thường xuyên. Do đó, sau mỗi lần đi chợ thì bạn nên ném chúng vào máy giặt rồi phơi nắng trước khi sử dụng tiếp cho lần sau.
4. Ngăn kéo siêu to
Chiếc ngăn kéo siêu to thường rất bừa bộn với vô số đồ lặt vặt khiến chị em tốn công khi tìm đồ, dọn dẹp. Hầu hết mọi người đều thường đào bới tung hết lên khi muốn tìm một chiếc chun hay cây bút. Lắp thêm một số vách ngăn nhỏ bằng chất liệu tương tự hoặc bìa cứng sẽ giúp bạn sắp xếp đồ lặt vặt gọn gàng hơn và tiện lợi khi lấy đồ.

5. Di động
Điện thoại di động chứa cực kì nhiều vi khuẩn, vi trùng khi nó theo bạn từ ngoài đường, vào đến nhà vệ sinh. Nếu bạn nhất thiết phải sờ vào di động khi nấu ăn thì nên nhớ rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn hoặc khăn tay chứa cồn trước khi tiếp tục sờ vào thực phẩm của gia đình.
6. TV
TV sẽ làm phân tán sự tập trung của bạn khi nấu ăn. Bộ não của bạn không tập trung hết vào quá trình nấu nướng, nhẹ thì cho quá tay gia vị, nặng thì gây cháy nổ.
7. Vật nuôi
Bạn rất yêu quý vật nuôi của mình và đã quen với việc chúng đi lại, quẩn quanh chân. Nhưng đó không phải ở nhà bếp nơi mà lông hay chất thải có thể rơi rớt trong bếp rồi vương vào đồ ăn của gia đình. Tập cho chúng thói quen tránh xa nhà bếp cũng tránh thu huýt gián, kiến hay chuột nhắt bén mảng đến phòng nấu ăn của gia đình.

8. Ví
Hãy suy nghĩ về nó. Bạn với chiếc túi của mình tung tăng khắp muôn nơi: phòng tập thể dục, xe ô tô, thậm chí là nhà vệ sinh công cộng. Điều cuối cùng bạn muốn làm là đưa vi trùng từ những nơi công cộng trở lại vào trong khu bếp và ám lên thức ăn chuẩn bị nấu cho bữa tối. Do vậy, hãy để chúng ở lối vào nhà thay vì để trên bàn bếp.
9. Bát đĩa màu trắng
Một nghiên cứu đã cho thấy khi mọi người sử dụng bát đĩa trắng để đựng thức ăn thì thường ăn nhiều hơn 20% so với khi dùng bát đĩa tối màu. Chuyên gia dinh dưỡng của tạp chí Good Housekeeping khuyên mọi người nên sử dụng bát đĩa màu xanh, xám, đen thay thế để giảm thiểu lượng năng lượng nạp vào, đặc biệt là buổi tối.

| ► ## giải mã giấc mơ theo tâm linh chuẩn xác |
![]() |
Rừng tự sát Aokigahara
Aokigahara là khu rừng nằm ở chân núi Phú Sĩ, Nhật Bản, được biết đến là nơi rất nhiều kẻ xấu số đã lựa chọn để kết liễu cuộc đời mình. Xu hướng này được cho là bắt đầu từ khi nhà văn Seicho Matsumoto cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Kuroi Kaiju, trong đó mô tả hai nhân vật chính đã tự tử tại chính khu rừng này. Đến nay, nơi đây đã trở thành địa điểm chết của Nhật Bản.
Sinh tháng Giêng: Là người đôn hậu, thân thể khỏe mạnh, nhưng lại thiếu nhanh nhạy, dễ nản lòng, rối chí. Người này nên biết kiềm chế bản thân, suy nghĩ chín chắn, tránh chuyện thị phi.
![]() |
| (Tranh minh họa) |
Sinh tháng 4: Người sinh tháng này tuy không giàu sang nhưng có nhiều niềm vui và may mắn trong đời. Tuy nhiên, họ cần biết cố gắng hơn nữa trong sự nghiệp và cuộc sống.
Sinh tháng 5: Sinh vào tiết Mang Chủng là người có hoàn cảnh phức tạp, dễ gặp tai họa. Số này phận mỏng, hậu vận bình an.
Sinh tháng 6: Người tuổi Tuất sinh vào tiết Tiểu Thử thường có tính cách khác người, tuy có chí khí nhưng không có cơ hội để vươn lên. Số này nhiều nạn, nếu không làm những chuyện bất chính sẽ có được cuộc sống no đủ.
Sinh tháng 7: Là người có số may mắn, hay được giúp đỡ tận tình. Tuy vậy, sự nghiệp khó thành, cuộc đời bất ổn, cuối đời tuy có của nhưng không tránh được đau buồn.
Sinh tháng 8: Sinh tháng này thường là người tự trọng, thông minh, khéo ăn nói. Tuổi trẻ gặp nhiều trở ngại nhưng đều vượt qua. Số này địa vị bấp bênh, cả đời không có hạn lớn, hậu vận may mắn, danh tiếng vang xa nhưng tài lộc không nhiều.
Sinh tháng 9: Là người cương nghị, dũng cảm, có ý chí vươn lên trong cuộc sống, được mọi người kính trọng. Tuy nhiên, không ít lần gặp phải sai lầm, thất bại.
Sinh tháng 10: Người tuổi Tuất sinh tháng này thường rất chính trực, trung thành nhưng cuộc sống bấp bênh, danh lợi khó đạt, cả đời vất vả nhưng cũng không nên nghiệp lớn.
Sinh tháng 11: Là người cần cù, chăm chỉ, tuy vất vả khó nhọc nhưng mọi việc khó thành. Số này may mắn được quý nhân phù trợ nên cả đời bình an.
Sinh tháng 12: Là người nghiêm khắc, có uy thế lớn. Số thuận lợi, công danh đều thành, phúc thọ lâu dài, được lộc an nhàn, gia thế hưng vượng, có của dễ giữ.
(Theo Nhân duyên & tướng cách đàn bà)
|
||||
Ôn tửu trảm Hoa Hùng
Trong "Tam Quốc diễn nghĩa", điển tích "ôn tửu trảm Hoa Hùng" được cho là thuật lại chiến công đầu tay của Quan Vân Trường.
Theo tiểu thuyết, bối cảnh câu chuyện diễn ra khi 18 lộ chư hầu Quan Đông khởi binh thảo phạt gian thần Đổng Trác. Quân Quan Đông bao vây thành Lạc Dương. Tướng quốc Bình Nguyên là Lưu Bị dẫn các tướng Quan Vũ, Trương Phi... theo cùng Thái thú Bắc Bình Công Tôn Toản.
Chư hầu cùng tiến cử Viên Thiệu làm minh chủ, Thái thú Trường Sa (một địa danh thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay) Tôn Kiên làm tiên phong tới Dĩ Thủy Quan khiêu chiến. Tướng của Đổng Trác là Kiêu kị hiệu úy Hoa Hùng tiếp chiến, đánh bại Tôn Kiên, chém đầu bộ tướng của kiên là Tổ Mậu.
| Quan Vân Trường "ôn tửu trảm Hoa Hùng". |
Hoa Hùng khiêu chiến quân Quan Đông, trảm liên tiếp 2 tướng. Trong lúc liên quân chư hầu bất lợi, Viên Thiệu đành than - "Tiếc rằng hai tướng Nhan Lương, Văn Xú chưa tới. Nếu có 1 người ở đây thôi, đâu cần phải sợ Hoa Hùng?"
Lời Thiệu chưa dứt, Quan Vũ đã bước ra nói - "Tiểu tướng xin đi lấy đầu Hoa Hùng!". Thời điểm đó, Quan Vân Trường chỉ là một "mã cung thủ" vô danh tiểu tốt, cho nên Viên Thiệu và Viên Thuật đều không bằng lòng, sợ mất mặt trước Hoa Hùng.
Trong các vị "lãnh đạo" có mặt, duy nhất Tào Tháo ủng hộ Quan Vũ xuất trận, và mời Quan Công một chén rượu. "Rượu đã rót ra, Quan mỗ sẽ trở lại ngay!" - Quan Công nói xong cầm đao lên ngựa. Không lâu sau đã thấy Quan Vũ đem đầu Hoa Hùng về ném dưới đất. Chén rượu của Tào Tháo vẫn còn ấm, vì vậy mới có tích Quan Công "ôn tửu trảm Hoa Hùng".
Hoa Hùng ở Lạc Dương, Quan Vũ ở đâu?
Mặc dù "ôn tửu trảm Hoa Hùng" đã trở thành một điển tích vô cùng nổi tiếng đối với độc giả Tam Quốc, xong nhiều tư liệu lịch sử lại cho thấy "chiến công" của Quan Vân Trường hoàn toàn phi thực tế.
Tháng giêng năm Sơ Bình thứ nhất (190), các quận Quan Đông khởi binh phạt Đổng Trác, tôn Thái thú Bột Hải Viên Thiệu làm minh chủ. Khi ấy, Công Tôn Toản vẫn còn ở U Châu chứ không tham gia hội sư.
Thêm vào đó, thời điểm này, Lưu Bị còn chưa về đầu quân cho Công Tôn Toản, cho thấy chi tiết Bị cùng Toản tham gia liên minh là không chính xác. Theo các tài liệu lịch sử Trung Quốc, vào thời gian trên, Lưu Bị đang dẫn quân đánh Đốc Bưu.
Khi đại tướng quân Hà Tiến phái đô úy Khưu Nghị tới Đan Dương mộ binh, Lưu Bị mới dẫn đội quân ít ỏi của mình theo người này. Tại Hạ Bì đụng độ giặc Hoàng Cân (khăn vàng), quân Lưu đánh trận lập công, Lưu Bị được phong chức phó quan ở Hạ Mật, sau làm Cao Đường úy, rồi Huyện lệnh Cao Đường.
| Theo "Tam Quốc diễn nghĩa", trảm Hoa Hùng là thắng lợi đầu tay của Quan Vũ, và cũng là "uy chấn càn khôn đệ nhất công". |
Về sau Cao Đường bị giặc Hoàng Cân phá, Bị mới về đầu quân cho Trung lang tướng Công Tôn Toản và được phong làm Biệt bộ tư mã.
Thời gian Lưu Bị làm Biệt bộ tư mã không được "Tam Quốc Chí" ghi lại, nhưng sách "Tư trị thông giám" và "Tục hậu Hán thư" đều viết, giai đoạn này vào khoảng tháng 10 năm Sơ Bình thứ hai (191), tức gần 2 năm sau khi liên minh Quan Đông thành lập.
Căn cứ vào các mốc thời gian thực tế, khi các châu quận khởi binh đánh Đổng Trác năm 190, Lưu Bị nhiều khả năng vẫn còn làm quan ở Hạ Mật, hoặc Cao Đường, chứ không thể có mặt tại tiền tuyến Lạc Dương.
Lưu Bị không ở Lạc Dương, cho thấy Quan Vũ cũng không có khả năng xuất hiện tại Lạc Dương để... trảm Hoa Hùng.
Công của Quan Vũ hay của "mãnh hổ Giang Đông"?
Cái chết của mãnh tướng Hoa Hùng đã được lịch sử ghi lại. Nhưng nhân vật trảm Hoa Hùng không phải là Quan Vũ, mà là "Giang Đông chi hổ" Tôn Kiên.
Tôn Kiên vốn là Thái thú Trường Sa (địa danh ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc), tước Ô Trình Hầu. Thời điểm chư hầu Quan Đông khởi binh, Tôn Kiên cũng từ Hồ Nam bắc tiến, hội sư với Viên Thuật tại Lỗ Dương.
"18 lộ chư hầu" cất quân bao vây Lạc Dương, song thực tế mỗi bên đều e ngại Đổng Trác và tính toán bảo toàn thực lực nên không có bên nào tiến quân, mà tất cả đều giữ thái độ "quan sát".
Chỉ có quân đội của Tào Tháo, Tôn Kiên và Vương Khuông từng giao chiến với Đổng Trác. Tôn Kiên bị tướng Đổng Trác là Từ Vinh tấn công ở phía đông huyện Lương, Kiên cùng mấy chục kỵ binh đột phá vòng vây.
Khi ấy, trên đầu Tôn Kiên thắt chiếc khăn màu đỏ, ông sợ bị quân địch nhận ra nên đưa khăn cho tướng thân tín là Tổ Mậu. Tổ Mậu "đóng thế" cho Tôn Kiên, dẫn dụ quân Đổng Trác đuổi theo, Tôn Kiên mới thoát nạn.
Sự việc trên được tác giả La Quán Trung "biến tấu" trong tiểu thuyết "Tam Quốc diễn nghĩa", rằng tướng Đổng Trác tập kích Tôn Kiên là Hoa Hùng, và chính Hoa Hùng chém đầu Tổ Mậu.
| Theo một số nguồn sử liệu Trung Quốc, "Mãnh hổ Giang Đông" Tôn Kiên được cho là tác giả của chiến công mà Quan Vũ "hưởng". |
Lịch sử Trung Quốc cho thấy, ở chiến dịch tiếp theo - chiến dịch Dương Nhân, Hoa Hùng mới xuất trận và cũng bị chém đầu trong trận đánh này. Trong chiến dịch này, Tôn Kiên tập trung tàn binh đóng tại Dương Nhân ở phía tây huyện Lương. Đổng Trác phái Lữ Bố, Hoa Hùng, Hồ Chẩn tấn công Kiên.
Lữ Bố bất hòa với Hồ Chẩn, trong khi Chẩn là chủ soái, cho nên Bố cố ý gây rối trong quân, tạo tâm lý hoang mang, khiến sỹ tốt phe Đổng Trác mất tinh thần. Trước sự tập kích của Tôn Kiên, 3 tướng Lữ - Hồ - Hoa thua chạy. Hoa Hùng bị Tôn Kiên chém đầu.
Trên thực tế, Hoa Hùng không có thành tích quân sự đáng kể. "Tam Quốc diễn nghĩa" đã cường điệu tài năng của viên tướng này. Chiến công chém 2 tướng Du Thiệp, Phan Phụng cũng chỉ là hư cấu.
Có nhiều bình luận cho rằng, "Tam Quốc diễn nghĩa" đề cao hình ảnh Hoa Hùng, mục đích không ngoài "tô điểm" cho sự lợi hại của Quan Vân Trường.
Tôn Kiên vốn là tác giả chiến công trảm Hoa Hùng, song tiểu thuyết hư cấu lại "tặng" công lao của Kiên cho Quan Vũ, quả thực là một sự bất công đối với danh tướng Giang Đông.
Bất chấp thực tế lịch sử, người đọc Tam Quốc vẫn biết đến Quan Vân Trường nhiều hơn với "càn khôn đệ nhất công" trảm Hoa Hùng:
Uy chấn càn khôn đệ nhất công,
Viên môn họa cổ hưởng đông đông.
Vân Trường đình trản thi anh dũng,
Tửu thượng ôn thời trảm Hoa Hùng.
Trong phong thủy có không ít phương pháp đổi vận, thúc đẩy tài vận nhưng bất kì phương pháp nào cũng có mặt tốt và mặt xấu, mặt phải và mặt trái. Ngũ Quỷ vận tài là phương pháp thúc đẩy tài lộc nhanh nhất nhưng cũng tiềm ẩn nhiều điều không hay. Cùng xem tác hại của Ngũ Quỷ vận tài để cân nhắc trước khi sử dụng.
![]() |
![]() |
Tuổi tôi nên hóa giải thế nào đối với tình huống này ? Có thể đặt trên bàn bể cá cảnh nhỏ hoặc vật phẩm phong thủy gì không ?
Nguyễn Hữu Nguyễn (Hà Nội)
Trả lời

Chào bạn!
Trên thực tế, không phải cứ ngồi trực diện cửa chính là xấu. Theo nguyên tắc vận động của dòng khí thì vị trí đối diện cửa chính vào phòng là vị trí nhận các dòng khí mạnh nhất từ cửa ra vào.
Vì vậy, vị trí này thích hợp với những nhân viên cần phải giao tiếp nhiều và hay phải đi lại thường xuyên như nhân viên kinh doanh, maketing... không phù hợp với những người làm nghiên cứu hay những bộ phận kế toán, hành chính, nhân sự...
Trong trường hợp công việc không phù hợp với vị trí trực diện cửa chính có thể khắc phục bằng cách đặt một chậu cây trước mặt để che chắn hoặc đặt một quả cầu thủy tinh trên bàn làm việc nhằm mục đích phân tán bớt các dòng khí quá mạnh từ cửa phòng.
Chuyên gia phong thủy Phạm Cương, Công ty Cổ phần Nhà Xuân
(Theo Kiến thức)